﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!--RSS generated by Windows SharePoint Services V3 RSS Generator on 07/05/2026 2:03:28 SA-->
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="/dantaphaibietsuta/_layouts/RssXslt.aspx?List=cdd8129a-43e4-48e5-99cc-cadbe67f4156" version="1.0"?>
<rss version="2.0">
  <channel>
    <title>Dân ta phải biết sử ta: Bài đăng</title>
    <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    <description>Liên kết nạp tin tự động RSS cho Bài đăng danh sách.</description>
    <lastBuildDate>Wed, 06 May 2026 19:03:28 GMT</lastBuildDate>
    <generator>Windows SharePoint Services V3 RSS Generator</generator>
    <ttl>60</ttl>
    <image>
      <title>Dân ta phải biết sử ta: Bài đăng</title>
      <url>/dantaphaibietsuta/_layouts/images/homepage.gif</url>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/AllPosts.aspx</link>
    </image>
    <item>
      <title>Kế hoạch tổ chức hội thi “Tự hào trang sử nước nhà”</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=106</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA5CAA536997B488899540FD5E61FB0A8><p class=Normal13pt align=left style="text-align:left;margin:0in 0in 0pt"><span style="font-family:Arial;font-size:10pt"><a href="/Hnh%20nh%20bn%20tin/2011-11/KH%20to%20chuc%20hoi%20thi%20tim%20hieu%20lich%20su%20dan%20toc%202010%20trong%20cac%20truong%20thcs.doc">Kế hoạch tổ chức hội thi “Tự hào trang sử nước nhà” </a></span></p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Các văn bản của Quận 8 về tuyên truyền lịch sử </div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 04/11/2011 4:45 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 2.896</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Các văn bản của Quận 8 về tuyên truyền lịch sử </category>
      <pubDate>Fri, 04 Nov 2011 09:50:29 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=106</guid>
    </item>
    <item>
      <title>CÁC THỦ LĨNH, TƯỚNG QUÂN TRONG CUỘC KHỞI NGHĨA CHỐNG QUÂN MINH ĐÔ HỘ (1407-1427)</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=86</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass8EB4CB76CCB34ECB9455609B5A9A6F2E><div class=ExternalClass2DE89E184DCE4A149F8D7B68F8F4AF34>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1. LÊ LỢI (1428 - 1433). </span></b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Niên hiệu: Thuận Thiên (1428-1433).<b></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lê Lợi sinh năm 1385 là con thứ ba của Lê Khoáng và Trịnh Thị Thương, người ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa. Lê Lợi là người thông minh, dũng lược, đức độ hơn người, dáng người hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, trên vai phải có nốt ruồi đỏ lớn, tiếng nói như chuông.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Khi Lê Lợi 21 tuổi là lúc quân Minh sang xâm lược nước ta. Phải sống dưới ách thống trị tàn bạo của quân Minh và chứng kiến những cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại bang ở khắp nơi bị kẻ thù đàn áp khốc liệt, Lê Lợi với lòng yêu nước thương dân mãnh liệt, đã nuôi chí lớn đánh đuổi quân Minh, giải phóng đất nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt cùng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An,.. và các tướng văn, võ chính thức phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi dân Đại Việt đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Suốt 10 năm nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử, Lê Lợi và bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đánh đuổi hết quân Minh ra khỏi bờ cõi, khôi phục nền độc lập hoàn toàn cho đất nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sau hội thề Đông Quan ngày 29-12-1427 tàn quân của giặc được phép rút về nước một cách an toàn. Ngày 3-1-1427 bóng dáng của quân Minh cuối cùng bị quét sạch khỏi bờ cõi. Khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Ngày 15-4-1428 Lê Lợi chính thức lên ngôi vua tại điện Kính Thiên, xưng là “<i>Thuận Thiên thừa vận, Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương”</i> đặt tên nước là Đại Việt, đóng đô ở Đông Đô (Hà Nội) đại xá thiên hạ, ban bố Bình Ngô đại cáo, đây chính là <i>“Tuyên ngôn độc lập” </i>lần thứ hai của Tổ Quốc ta. Năm 1430 đổi Đông Đô thành Đông Kinh, Tây Đô (Lam Kinh - Thanh Hóa) thành Tây Kinh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lê Thái Tổ mất ngày 22 tháng 8 năm 1433 hưởng thọ 49 tuổi, táng tại Vĩnh Lăng, Thanh Hóa, trị vì đất nước được 5 năm.</span></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2. LÊ LAI.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Người làng Dựng Tú (nay thuộc xã Kiên Thọ, Ngọc Lặc, Thanh Hóa. Anh trai ông là Lê Lâm và ba con trai ông là Lư, Lộ, Lâm, đều tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ đầu và đều là võ tướng quan trọng của Lê Lợi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tháng 5 năm 1419 quân Minh điên cuồng tập trung lực lượng bao vây ráo riết, quyết bắt cho được Lê Lợi ở núi Chí Linh. Trước tình hình ấy, Bình Định Vương Lê Lợi cho triệu tập các tướng sĩ lại. Có ý kiến đề nghị một trong những anh hùng hào kiệt có thể đóng giả Lê Lợi ra trận để phá vòng vây cho nghĩa quân. Người tự nguyện nhận công việc cao cả này là Lê Lai. Trước nghĩa cử của Lê Lai, Lê Lợi đành gạt nước mắt, cởi áo Hoàng bào mặc cho Lê Lai thay mình ra trận. Sau khi lạy tạ Bình Định Vương, Lê Lai điểm lấy 500 quân cảm tử và hai thớt voi chiến tức tốc lên đường tiến thẳng vào vòng vây giặc. Thấy Lê Lai, giặc tưởng là Lê Lợi dàn quân vây trận. Lê Lai cùng 500 dũng sĩ đã chiến đấu nhưng không phá nổi vòng vây. Giết xong Lê Lai quân giặc hí hửng rút quân về Tây Đô. Lê Lợi cùng lực lượng của nghĩa quân được bảo toàn và tiếp tục cuộc chiến đấu cho đến ngày toàn thắng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi, đã truy phong Lê Lai là công thần hạng nhất “<i>Lũng Nhai công thần”</i> hàm thiếu úy, Thụy là Toàn Nghĩa. Theo Hoàng Lê Ngọc phả có chép lời Lê Lợi dặn rằng <i style="">“Sau khi ta mất, con cháu nên vì ta mà giỗ tổ Lê Lai trước ta một ngày”</i> Từ đó trong dân gian lưu truyền <i style="">“Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Khi Lê Lai chết, Lê Lợi cho tìm xác ông về chôn ở Lam Sơn và tiến hành theo nghi lễ quốc táng, đồng thời cho lập đền thờ và khánh vị của ông luôn ở đó. Về sau các đời vua củng tỏ lòng tôn kính và nhớ ơn Lê Lai, đã phong cho ông các chức Bình chương Quân quân quốc trọng sự (đời vua Lê Anh Tông), Trung Túc Vương (đời vua Lê Thánh Tông). Đến đời Nguyễn liệt kê ông vào hàng khai quốc công thần đệ nhất triều Lê.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">3. NGUYỄN TRÃI (1380- 1442).</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380 quê ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Tây. Tổ Tiên ông vốn là người làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Cha là Nguyễn Phi Khanh thái học sinh đời Trần. Ông ngoại là Tư đồ Trần Nguyên Đán, đại thần của triều Trần.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nguyễn Trãi đỗ Tiến sĩ năm 1400, làm quan ngự sử dưới thời Hồ Quý Ly. Năm 1407 giặc Minh sang xâm lược nước ta, nhà Hồ mất, Nguyễn Phi Khanh bị bắt đưa về Trung Quốc. Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở thành Đông Quan (Hà Nội). Giặc Minh đã tìm cách mua chuộc và dụ dỗ nhưng ông đã từ chối. Đầu năm 1416 ông trốn về Thanh Hóa tham gia hội thề Lũng Nhai, cùng Lê Lợi tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn. Nguyễn Trãi từng dâng Lê Lợi bản <i style="">“Bình Ngô sách”</i> chỉ rõ con đường cứu nước với chủ trương <i>“đánh vào lòng người”</i>. Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi phụ trách địch vận, ngụy vận, thay mặt Lê Lợi soạn thảo thư từ gửi cho triều Minh và các tướng lĩnh cả địch<i>.</i> </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Khởi nghĩa Lam Sơn hoàn toàn thắng lợi, Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi<span style="">  </span>thảo <i>“Bình Ngô cáo”,</i> tổng kết lịch sử giữ nước của 10 năm chiến đấu anh dũng và gian khổ của nghĩa quân Lam Sơn, có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập, được người sau đánh giá là áng <i style="">“<span style="">thiên cổ hùng văn”.</span></i> Ông còn viết bài <i>“Phú núi Chí Linh”</i> ca ngợi tinh thần chịu đựng gian khổ, ý chí chiến đấu cứu nước, cứu dân của nghĩa quân Lam Sơn. Ngày thắng lợi ông được xem là bậc công thần, ban quốc tính, tước quan Phục hầu.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vào những năm 1430-1431 ông xin về nghỉ ở Côn Sơn (Chí Linh - Hải Dương) dạy học. Năm 1433 Lê Lợi mất, ông được mời lại vào triều, giao soạn thảo văn bia Vĩnh Lăng. Khoảng cuối năm 1437 ông không được trọng dụng nên lại xin về Côn Sơn, thời kì này ông sáng tác nhiều thơ văn. Hiện còn một số bài được tập hợp trong <i>“Ức Trai thi tập”</i>. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1440 Lê Thái Tông mời ông ra làm quan và phục chức như cũ. Tuy tuổi đã cao, nhưng khi trở lại triều đình ông đã mang hết sức mình phục vụ đất nước. Ông soạn bộ <i>“Dư địa chí</i>” giúp mọi người hiểu rõ đại lý, nhân văn và các đạo, phủ trong cả nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1442 vua Thái Tông nhân đi duyệt binh ở Chí Linh có ghé qua Côn Sơn thăm ông, trên đường về kinh thành, vua nghỉ ở trại Vải (Bắc Ninh), có bà Nguyễn Thị Lộ, vợ Nguyễn Trãi theo hầu, vua bất ngờ qua đời. Bọn quyền thần vốn ghen ghét với ông, nhân cơ hội đó quy cho ông tội cùng vợ giết vua, kết án chu di ba họ. Cuộc đời của vị anh hùng dân tộc, nhà văn hóa kết thúc oan nghiệt.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Hai mươi năm sau Lê Thánh Tông minh oan và phục chức cho ông, truy phong tước Tế Văn hầu. Nguyễn Trãi xứng đáng là anh hùng dân tộc, nhà văn học kiệt xuất, tài đức vẹn toàn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">4. NGUYỄN BIỂU ( - 1413).<span style="">  </span></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nguyễn Biểu quê ở làng Bình Hồ tức Yên Hồ, huyện Chi La, lộ Nghệ An (nay là xã Đức Diên, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Ông đậu Thái học sinh vào cuối đời Trần. Khi giặc Minh đô hộ nước ta, ông theo Trần Quý Khoáng (trùng Quang Đế) đánh giặc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tháng 3 năm 1413 Trần Quý Khoáng sai Nguyễn Biểu sang điều đình với nhà Minh. Trương Phụ tướng của nhà Minh muốn uy hiếp tinh thần Nguyễn Biểu, đã sai quân dọn một bữa tiệc đặc biệt, bằng cách cho bê một mâm cỗ đặt trên chiếc sập gụ màu nâu sẫm, cạnh mâm là một nậm rượu và cái chén đặt ngay ngắn trên khay khảm xà cừ.<span style=""> </span>Người lính hầu nhấc chiếc lồng bàn ra thì Nguyễn Biểu sửng sốt: một mâm cỗ quái đản và ghê tởm <i>“Một chiếc đầu người của một người dân bất hạnh nào đó, đã được luộc chín”.</i><span style=""></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Không một chút do dự, Nguyễn Biểu ngồi xuống ung dung rót rượu, sau khi uống rượu khai vị, Nguyễn Biểu cầm đũa ngà moi đôi mắt chấm vào muối nuốt một cách ngon lành. Sau khi cạn chén rượu, Nguyễn Biểu cười kiêu hãnh nói một mình như nhắn bảo cho Trương Phụ biết <i style="">“<span style="">Không mấy khi người Nam được ăn đầu người Bắc” rồi rung đùi ngâm bài thơ ứng khẩu.</span></i></span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">“Ngọc thiệt chân tu đã đủ mùi</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Gia hào có thêm cỗ đầu người</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nem công chả phượng còn chưa béo</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Thịt gụ gan lân cũng kém tươi</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cá lối lộc Minh so cũng một</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vật bày thỏ thú bội hơn mười</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Kia kìa ngon ngọt tày vai lợn</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tráng sĩ như phàn tiếng để đời”</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nói xong Nguyễn Biểu buông đũa đứng dậy, quân hầu mang chuyện kể với Trương Phụ, Trương Phụ nể người có tài năng và khí phách nên đã lấy lễ đón tiếp và tiễn chân sứ giả ra về. Thế nhưng nghe lời tên Việt gian ton hót <i>“Ngài muốn lấy nước Nam mà tha cho người ấy ra về thì sao mà xong việc được”</i>. Trương Phụ nghe ra đã cho bắt Nguyễn Biểu lại. Ông đã chỉ thẳng vào mặt Trương Phụ mà quát mắng <i>“Trong bụng toan tính việc đánh chiếm người ta, ngoài mặt lại phô trương nhân nghĩa, trước nói là lập con cháu họ Trần, bây giờ lại đặt quận huyện, không những cướp bóc của cải lại còn giết hại nhân dân, bọn này thật là lũ giặc bạo ngược”.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Không khuất phục được Nguyễn Biểu, Trương Phụ ra lệnh giết Nguyễn Biểu. Nguyễn Biểu chết nhưng lòng yêu nước và hình ảnh lẫm liệt bất khuất của ông trước bọn giặc cướp nước hung bạo là tấm gương ngàn đời bất tử. </span></p>
</div>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8 </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo</span></u></i></b><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">:</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Lịch sử Việt Nam tập 3 của Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại T.P HCM, NXB trẻ năm 2007. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần, NXBGD VN năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam của Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB văn hóa –thông tin năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3 của NXB Trẻ năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010, các nhân vật lịch sử của NXBGD.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Việt Nam anh Kiệt – Đặng Duy Phúc – NXB VHTT – 2010.</span></i></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 19/10/2011 10:25 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 30.689</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 04:25:07 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=86</guid>
    </item>
    <item>
      <title>IV. TRIỀU TRẦN BA LẦN CHIẾN THẮNG QUÂN MÔNG – NGUYÊN</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=72</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass0772891990D643B696C5920E9313A6D3><div class=ExternalClass243FECAF1C6D4C3BB7ADB32BD3C09189>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">            1. Cuộc kháng chiến chống quân Mông cổ lần thứ I - năm 1258 </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Trước khi cho quân tràn xuống Đại Việt, Vua Mông Cổ phái sứ giả sang dụ triều đình nhà Trần hàn phục. Vua Trần Thái Tông không chút nao núng, cho bắt giam sứ giả, rồi đặt dân cả nước trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. <span>            </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Tháng 1 năm 1258 Mông Cổ mang 3 vạn quân men theo Sông Hồng tiến vào nước Đại Việt. <b><i>Vua Trần Thái Tông đích thân dẫn quân ra trận</i></b>. Trước sức mạnh của quân Mông Cổ, Vua Trần Thái Tông có ý định dốc hết lực lượng để đánh trận quyết định với quân Mông Cổ, Lê Tần khuyên vua tạm thời rút lui để bảo toàn lực lượng, chờ cơ hội chắc thắng để đánh trận quyết định. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Khi quân Mông Cổ tiến vào được Thăng Long. Quân dân theo lệnh của triều đình đã thực hiện “vườn không nhà trống”, rút về Thiên Mạc (Hà Nam). Đóng quân nơi “vườn không nhà trống”, vừa thiếu lương thực, vừa bị bao vây bên ngoài, giặc lâm vào tình thế khốn quẩn. Đúng lúc đó, quân Đại Việt mở cuộc phản công. Trận đánh quyết định đã diễn ra tại khu vực Đông Bộ Đầu (nay là Long Biên – Hà Nội). Ngày 24/1/1258 ba vạn quân Mông Cổ bị đánh bật ra khỏi Thăng Long. Thắng lợi lần thứ nhất này vừa chứng tỏ khí phách hiên ngang của quân, dân Đại Việt, vừa thể hiện nghệ thuật tổ chức chiến đấu của vua quan nhà Trần. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span><b>2. Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 2 - Năm 1285</b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Sau chiến thắng quân Mông – Nguyên lần thứ nhất, để củng cố lại lực lượng binh sỹ và tập trung phát triển sản xuất trong nước, nhà Trần đã duy trì chính sách hòa hoãn mềm dẻo với Mông cổ, đấu tranh ngoại giao bền bỉ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span><b><i>Năm 1271, Vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên. </i></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Đầu năm 1258, Hốt tất Liệt quyết định huy động nửa triệu quân sang xâm lược Đại Việt. Tổng chỉ huy quân xâm lăng lần này là Thoát Hoan (con trai của Hốt Tất Liệt) và tướng Toa Đô, chia làm 2 hướng tấn công. Thoát Hoan vượt qua cửa ải Lạng Sơn tiến xuống Đại Việt, Toa Đô theo hướng từ Chămpa đánh thốc lên. Đây là lần xâm lược Đại Việt với quy mô lớn nhất của nhà Nguyên.<span>  </span><span> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span><b><i>Tướng chỉ huy chống quân Nguyên của ta lúc này là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn</i></b>. Sau nhiều đợt rút lui để tránh thế mạnh của các đạo quân Nguyên, dùng chiến thuật “vườn không nhà trống” để quân địch không có lương ăn và bị bệnh dịch do không hợp thủy thổ bản địa, nhà Trần tổ chức phản công vào cuối xuân, đầu hè năm 1285. Với những chiến thắng ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, quân Trần đại thắng, bắt giết được Toa Đô. Thoát Hoan thu tàn quân chạy về phía Bắc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Thắng lợi năm 1285 khẳng định vị thế của Đại Việt và củng cố lòng tin của người Việt có thể đương đầu được với đạo quân hùng mạnh của Mông Nguyên liền kề phía Bắc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span><b>3. Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 3 (1287 - 1288)</b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Bị thất bại thảm hại, nhưng nhà Nguyên vẫn chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lăng Đại Việt. Tháng 12 năm 1287, Hốt Tất Liệt quyết định huy động nửa triệu quân, nhiều thuyền chiến, cùng tiếp tế lương thảo sang đánh báo thù. Tổng chỉ huy đạo quân xâm lăng là tướng bại trận Thoát Hoan, chúng chia làm ba đạo quân tiến vào Đại Việt. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Đạo quân thứ nhất do Thoát Hoan chỉ huy chia thành 2 cánh. Cánh thứ nhất qua Sơn Động (Bắc Giang ngày nay), cánh thứ hai qua Ải Chi Lăng rồi vào Vạn Kiếp.<span>  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Đạo quân thứ hai do Ái Lỗ cầm đầu, vào Trùng Khánh (Cao Bằng ngày nay), men theo Sông Hồng, tiến xuống Bạch Hạc (Phú Thọ ngày nay), rồi xuống Vạn Kiếp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Đạo quân thứ ba do<span>  </span>Ô Mã Nhi và Phó tướng Phàn Tiếp được giao chỉ huy đạo quân thủy binh. Từ Khâm Châu (Trung Quốc) vượt biển, theo cửa sông Bạch Đằng vào Vạn Kiếp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Về phía ta, <b><i>Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn một lần nữa được cử làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ đội quân Đại Việt</i></b>, trực tiếp dẫn quân chặn đánh 2 đạo quân phía Bắc là Thoát Hoan và Ái Lỗ. Vùng duyên hải Đông Bắc do Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư chỉ huy, có nhiệm vụ chặn đánh đạo quân thủy của Ô Mã Nhi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Ngày 25/12/1287, quân Nguyên bắt đầu tràn vào lãnh thổ Đại Việt. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Ngày 2/1/1288 đạo quân của Thoát Hoan tiến vào đến Vạn Kiếp, không lâu sau đó quân của Ái Lỗ cũng hợp nhau ở đây.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Cuối tháng 12/1287, thủy binh của Ô Mã Nhi và đoàn thuyền chở lương thực của Trương Văn Hổ vào duyên hải Đại Việt, tiến về Vân Đồn. Trần Khánh Dư lập tức tập kích vào đoàn thuyền lương thực của Trương Văn Hổ ở Vân Đồn, Trương Văn Hổ phải bỏ chạy. Trong trận Vân Đồn ta làm tiêu hao sinh lực địch không nhiều, nhưng đã làm cho địch không còn lương thực và tinh thần của địch sa sút nghiêm trọng. <span>   </span><span> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Tháng 2/1288 Từ Vạn Kiếp quân Nguyên tấn công vào Thăng Long. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Nhà Trần tiếp tục chủ động áp dụng chiến thuật tránh thế mạnh, triệt lương thảo, “vườn không nhà trống”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Quân Nguyên vừa thiếu lương thực, vừa sa sút tinh thần, ý chí xâm lăng của Thoát Hoan và các tướng giặc lung lay, chúng quyết định rút quân về nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Phía ta đã chuyển bị phục kích giặc ở sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn kế thừa kinh nghiệm của Ngô Quyền cũng đóng cọc chờ con nước và bố trí các thuyền chứa đầy lửa để đâm vào thuyền giặc. Giữa tháng 4 năm 1288, quân Nguyên bại trận tại sông Bạch Đằng, ta bắt sống Nguyên soái Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ. Thoát Hoan một lần nữa chạy trốn về phía Bắc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Sau thất bại lần thứ ba ở Đại Việt, Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt vẫn chưa muốn đình chiến. Sang các năm sau, vua Nguyên tiếp tục muốn điều binh sang nhưng chưa gặp thời cơ thuận tiện. Tới năm 1294 lại định điều binh lần nữa thì Hốt Tất Liệt băng hà. Cháu nội là Nguyên Thành Tông lên ngôi không muốn gây chiến với Đại Việt nữa. Việc chiến tranh với nhà Nguyên từ đó mới chấm dứt.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>4. Triều Trần sau chiến thắng Mông – Nguyên.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Nửa sau thế kỷ XIV xã hội Đại Việt lâm vào khủng hoảng trầm trọng, sản xuất ngày càng trì trệ, đời sống nông nô, nô tì bị bần cùng hóa. Mất mùa, đói kém liên tiếp xảy ra, nông dân nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Bắt đầu từ đời Vua Trần Dụ Tông, triều đình ngày một sa sút, nhiều đại thần tham nhũng, vua thì ăn chơi, xa xỉ, trụy lạc, nội bộ triều đình lục đục.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Bên ngoài Chămpa nhiều lần gây xung đột, chiến tranh với Đại Việt, đem quân vào đánh phá Thăng Long. Vua Trần Duệ Tông đích thân đi chinh phạt Chămpa, đến Chà Bàn thì lâm nạn. Chỉ đến khi Vua Chămpa Chế Bồng Nga tử trận (1390), chiến tranh mới tạm yên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Cuối thời Trần, thượng hoàng Nghệ Tông nắm quyền bính trong tay quyết định mọi việc nhưng lại quá tin dùng Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly). Hồ Quý Ly càng ngày càng lộng quyền. Năm 1394, vua Trần Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly nắm lấy cả quyền hành rồi sai người vào đất Thanh Hoá xây thành Tây Đô. Sau khi công việc xong xuôi, Hồ Quý Ly bắt Vua Trần Thuận Tông dời kinh thành về Tây Đô rồi lập mưu ép Vua Trần Thuận Tông nhường ngôi cho con là Thiếu Đế khi đó mới có 3 tuổi lên ngôi. Hồ Quý Ly lên làm phụ chính sai người giết Thuận Tông. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Tháng 2 năm 1400 Hồ Quý Ly truất phế Vua Thiếu Đế, tự xưng Vua. Nhà Trần chấm dứt từ đó. </span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo: </span></u></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- <i>Lịch sử Việt Nam tập 3, tác giả Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh ,NXB Trẻ, năm 2007.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tiến trình Lịch sử Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục, <span> </span>năm 2009. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Thuần ,NXB Giáo dục, năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam, tác giả Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB Văn hóa – thông tin, năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3, Tác giả Nhóm Nhân văn trẻ, <span> </span>NXB Trẻ, năm 2008.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Các nhân vật lịch sử của NXB Giáo dục. </span></i></p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> TRIỀU TRẦN (1225 - 1400)</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 19/10/2011 2:40 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 29.560</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>TRIỀU TRẦN (1225 - 1400)</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 02:29:31 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=72</guid>
    </item>
    <item>
      <title>8. TRIỆU THỊ TRINH (225 – 248)</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=94</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassB372F9F4948641D1AB1FD85ADC68084E><div class=ExternalClass212D2E7B087145F0B1E54F5449BFD4B8>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.2pt;color:blue;font-size:10pt">Còn gọi : Triệu Trinh Nương, Bà Triệu, Lệ Hải Bà Vương, Nhụy Kiều Tướng Quân.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Là người miền núi vùng Quân Yên, quận Cửu Chân (Thiệu Yên – Thanh Hóa).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Ở vùng Quan Yên có con voi trắng một ngà rất hung dữ, thường về phá hoại mùa màng mọi người đều sợ. Để trừ hại giúp dân, bà Triệu rủ chúng bạn đi vây vắt, lùa voi xuống đầm lầy (vùng sông Cầu Chày), rồi nhảy lên cưỡi đầu voi, cuối cùng đã thuần phục được con voi ấy. Con voi trắng này sau trở thành người bạn trung thành của bà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Ở buổi đầu cuộc khởi nghĩa, bà Triệu dùng kế cho quân đục vào núi Quan Yên, tạo thành hốc đá, rồi cho người ngồi vào đó mà đọc lời nguyền “Có Bà Triệu tướng, vâng lệnh trời ta, trị voi một ngà, dựng cờ mở nước, lệnh truyền sau trước, theo gót Bà Vương”. Nhờ đó, hàng ngũ dân chúng theo Bà Triệu thêm đông, thế thêm mạnh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Bà là em gái của Triệu Quốc Đạt, cha mẹ đều mất, bà ở cùng anh và chị dâu. Gặp chị dâu lăng loàn, bà tức giận giết chết rồi vào miền núi rừng Bồ Điền (Hậu Lộc – Thanh Hóa). Hai mươi tuổi chưa chịu lấy chồng. Theo lời kể dân gian, Bà Triệu đã từng có lời thề tràn đầy khí phách “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người khác”. Bà đã dồn tâm lực chiêu nạp trai tráng, luyện tập võ nghệ được mấy ngàn người. Sau bà hợp binh với anh trai Triệu Quốc Đạt nổi dậy. Anh chết, bà được tôn làm chủ soái.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Hình ảnh của Bà Triệu được phác họa trong nhân dân như một nữ tướng oai nghiêm, giúp dân cứu nước “Mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trận”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Trong nhân dân còn lưu truyền câu ca dao với lòng tôn kính đối với Bà Triệu :</span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">“Ru con, con ngủ cho lành</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Muốn coi lên núi mà coi</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Có bà Triệu tướng cõi voi bành vàng”.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Còn quân Ngô, sau những lần bị Bà Triệu đánh bại, đã khiếp đảm, thốt lên :</span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">“Hoành qua sát hổ dị</span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Đối diện Bà Vương nan”</span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">(Múa giáo giết cọp dễ</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Đối diện vua Bà khó).</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Ngày nay, trên núi Tùng (Triệu Sơn – Thanh Hóa) có lăng bà Triệu, đền thờ chính nằm dưới chân núi Tùng. Ngày 21 tháng 02 âm lịch hàng năm là ngày tưởng nhớ tinh thần kiên trinh bất<span>  </span>khuất của bà.</span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">(Tài liệu tham khảo :<span> Lịch sử Việt Nam, tập 3 của Hội Đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh – Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2007).</span></span></i></p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/10/2011 2:15 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 6.177</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 08:30:55 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=94</guid>
    </item>
    <item>
      <title>CÁC QUAN THẦN NỔI TIẾNG TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=83</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass244AEA9201B04EE2A0100C7A81B0DC12><div class=ExternalClass7139716D0C3640758C7563928048C3FF>
<div class=ExternalClass6BD0A3317E7F4013AACBBE0FE404A173>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">1. TRẦN THỦ ĐỘ (1194- 1264).</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần (1194) tại làng Lưu Xá (Hưng Hà-Thái Bình). Là một người ít học, nhưng là người mưu lược, quyết đoán và có công đầu trong việc xây dựng cơ nghiệp nhà Trần.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Cuối triều Lý, nền kinh tế đất nước suy thoái, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, giặc dã nổi lên nhiều nơi. Trong khi đó quân Mông – Nguyên hung bạo chuẩn bị đem quân sang xâm chiếm nước ta. Tình hình đất nước trở nên nguy ngập, đất nước không thể tránh khỏi họa diệt vong.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Là một người mưu lược, có tầm nhìn xa trông rộng. Trần Thủ Độ đã ép vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái bảy tuổi là Lý Chiêu Hoàng, sau đó ông đã thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Sự sắp xếp đó của Trần Thủ Độ là sự sắp xếp khôn ngoan và hợp quy luật hưng vong, làm một cuộc đảo chính cung đình mà không xảy ra đổ máu, còn tạo cho đất nước bước vào thế ổn định, để xây dựng lực lượng, phát triển kinh tế cũng như quân sự để chuẩn bị đương đầu với những khó khăn trong tương lai.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi lên ngôi, vua Trần Thái Tông đã cho Trần Thủ Độ làm Thái sư nắm giữ mọi binh quyền, chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã thu phục được các thế lực đối địch, tổ chức bộ máy chính quyền từ Trung ương đến xã.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ nhất, trước thế giặc mạnh, đã có lúc tướng Trần Nhật Hiệu hoảng sợ lấy ngón tay viết lên mạn thuyền của vua hai chữ “Nhập Tống”. Vua chuyển sang hỏi Trần Thủ Độ. Ông thẳng thắn trả lời <i>“Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”, </i>câu nói đó của Trần Thủ Độ giữ vững tinh thần chiến đấu của quân dân Đại Việt. Ông thực sự trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ nhất.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Sử sách thời xưa thường coi Trần Thủ Độ là người độc ác, gian hùng như Tào Tháo, nhưng những công lao của ông để lại cho đất nước, đặc biệt là giữ vững tinh thần chiến đấu cho nhân dân Đại Việt trước giặc Mông – Nguyên lần thứ nhất và xây dựng một triều đại nhà Trần hợp với quy luật hưng vong của triều đại là không thể phủ nhận. Ông mất năm Giáp tý (1264). Nhiều nơi lập đền thờ tưởng nhớ công lao của ông.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">2. HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN (1228-1300).</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trần Quốc Tuấn (1228- 1300) là một anh hùng kiệt xuất của dân tộc, đồng thời là danh nhân quân sự cổ kim của thế giới. Là con của An Sinh Vương Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông - Trần Cảnh).</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Nói đến Trần Quốc Tuấn là nói đến một người chỉ huy có tài thao lược, trí dũng song toàn, luôn đặt lợi ích dân tộc và đất nước trên hết, ông biết dẹp thù nhà để phò vua, xây dựng đất nước. Công lao lớn nhất của ông là ba lần đánh thắng quân Mông – Nguyên hung bạo, trong đó 2 lần ông được cử làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội Đại Việt. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1285 quân Mông – Nguyên ào ạt tiến quân vào nước ta. Trước tình hình đó Trần Thái Tông triệu Trần Hưng Đạo đến và nói <i>“Kẻ thù thì rất mạnh, ta e rằng chiến tranh kéo dài sẽ làm đất nước tổn hại. Hay là ta đầu hàng cứu dân”.</i> Trần Hưng Đạo đã trả lời <i>“Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã”.</i></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trong trận này Trần Hưng Đạo đã trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công vào đồn trại của giặc trên Sông Hồng, vào kinh thành Thăng Long với những chiến thắng lẫy lừng ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Lần thứ ba vào năm 1288 Trần Hưng Đạo đã chỉ huy quân ta đánh thắng quân Mông – Nguyên và giành thắng lợi vĩ đại ở trận Bạch Đằng (3-1288), đập tan 50 vạn quân xâm lược Mông - Nguyên, giữ vững nền độc lập của Tổ quốc ta.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Không chỉ là người chỉ huy tài ba trên chiến trường mà Trần Quốc Tuấn còn là một người có tư tưởng quân sự tiến bộ, một người xem rộng biết nhiều, đủ tài văn võ, đã dành tâm huyết và hiểu biết của mình để viết các tác phẩm như: “<i>Binh thư yếu lược”, “Vạn kiếp tông truyền thư”, “Hịch tướng sĩ”.</i> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1300 Bình Bắc Đại nguyên soái Hưng Đạo Đại Vương qua đời. Nhân dân ta đã lập đền thờ ở nhiều nơi để tưởng nhớ công ơn của ông.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">3. TRẦN QUANG KHẢI (1240-1294).</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trần Quang Khải sinh năm 1240, là con của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) và hoàng hậu Thuận Thiên.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trong cuộc kháng chiến chống Mông –Nguyên lần thứ hai và lần thứ ba, người chỉ huy số một là Trần Hưng Đạo và vị tướng chủ chốt thứ hai đó là Trần Quang Khải. Trần Quang Khải đã chỉ huy đánh tan quân Mông – Nguyên ở Chương Dương và những trận then chốt nhằm khôi phục kinh đô Thăng Long vào cuối tháng 5 năm 1285.<b> </b>Trận thắng Chương Dương đã mở đường cho quân ta tiến nhanh đến thắng lợi cuối cùng, quét sạch giặc Mông – Nguyên ra khỏi bờ cõi. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trần Quang Khải là một anh tài kiệt xuất không chỉ về chính trị, quân sự, mà còn là nhà thơ với tập thơ “Lạc Đạo”. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1294 Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải mất, thọ 54 tuổi.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">4. TRẦN NHẬT DUẬT (1253- 1330).</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trần Nhật Duật là con thứ tư của vua Trần Thái Tông và hoàng hậu Thuận Thiên. Từ nhỏ đã nổi tiếng là ông hoàng hiếu học và sớm bộc lộ thiên tài, ham thích hiểu biết về các tiếng nói và tộc người<i>.<b> </b></i>Không chỉ am hiểu ngôn ngữ của các dân tộc như tiếng Tống và tiếng Chiêm Thành mà còn hiểu cả phong tục, tập quán của họ. Đối với các dân tộc trong nước, ông còn am hiểu về con người của họ. Chính bởi những am hiểu đó mà ông mới 20 tuổi đã được vua giao cho đặc trách về công việc của các dân tộc liên quan. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trong cuộc kháng chiến chống Mông –Nguyên lần hai và lần ba, Trần Nhật Duật đều lập được những chiến công hiển hách, đặc biệt là trận Hàm Tử. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1330 (Canh Ngọ) Tả Thánh Thái Sư Chiêu Văn Đại Vương Trần Nhật Duật qua đời, thọ 77 tuổi.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">5. TRẦN KHÁNH DƯ.</span></b><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trần Khánh Dư là con Thượng Tướng Trần Phó Duyệt, nhân có công đánh giặc Mông – Nguyên lần thứ nhất mà vua Trần Thái Tông nhận làm con nuôi và phong đến chức Phiêu kỵ Tướng quân rồi đến chức Thượng vị hầu. Trong kháng chiến chống Mông –Nguyên lần thứ hai, Trần Khánh Dư được phục chức phong là Phó đô Tướng quân.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trong cuộc kháng chiến chống Mông –Nguyên lần thứ ba, Trần Khánh Dư làm phó tướng giữ Vân Đồn, nhưng chặn không nổi thủy quân của giặc. Thượng Hoàng nghe tin sai trung sứ xiềng Ông về trị tội. Trần Khánh Dư xin khất hai, ba ngày để <i>“lập công chuộc tội”</i> rồi về <i>“Chịu búa rìu củng chưa muộn”.</i></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Khi ông biết thuyền của quân giặc chở lương thực sẽ đi qua, ông đã thu thập tàn quân để chặn đánh thuyền giặc. Khi thuyền của giặc tới, ông đổ quân ra đánh, thu được khí giới, tù binh và lương thực nhiều không kể xiết. Còn bao nhiêu thì đánh đắm xuống biển. Tướng giặc Trương Văn Hổ xuống chiếc thuyền con chạy về đảo Hải Nam mới thoát chết.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Hơn 30 năm sau ngày đại thắng giặc Mông – Nguyên, ông được triều đình trực tiếp giao nhiều trọng trách như đánh dẹp giặc Chiêm Thành quấy phá ở biên giới phía Nam, tiếp sứ Nguyên.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Khi tuổi đã 70 Nhân Huệ Vương xin về trí sĩ tại vùng đất ông được vua ban ở xã Dương hòa, lộ Lý Nhân, trấn Sơn Nam (Hà Nam). Ông còn mở mang khai khẩn, lập làng mới vùng đất Tam Điệp,Trường Yên (Ninh Bình), ông đặt tên là trại An Trung. Ông ở lại nơi mới khai phá 10 năm. Khi tuổi đã 80 ông trở về ấp Dưỡng Hòa cũ và trao lại ấp mới gia tướng họ Bùi và họ Nguyễn.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">6. TRẦN BÌNH TRỌNG </span></b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> (1259-1285).</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trần Bình Trọng là danh tướng thời </span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Nhà Trần" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n"><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="text-decoration:none;text-underline:none">Trần</span></span></a></span><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">, có công lớn hộ giá bảo vệ cho hai vua Trần (</span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Trần Thánh Tông" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Th%C3%A1nh_T%C3%B4ng"><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="text-decoration:none;text-underline:none">Trần Thánh Tông</span></span></a></span><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> và </span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Trần Nhân Tông" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Nh%C3%A2n_T%C3%B4ng"><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="text-decoration:none;text-underline:none">Trần Nhân Tông</span></span></a></span><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">) trong cuộc kháng chiến chống quân </span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Nhà Nguyên" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Nguy%C3%AAn"><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="text-decoration:none;text-underline:none">Mông</span></span></a></span><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> – Nguyên </span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">lần thứ hai. Ông hy sinh khi chặn quân Nguyên ở bãi </span></span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Thiên Mạc (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Thi%C3%AAn_M%E1%BA%A1c&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color:#0000ff"><span style="text-decoration:none;text-underline:none">Thiên Mạc</span></span></a></span><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">, được truy phong làm Bảo Nghĩa Vương.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trần Bình Trọng là hậu duệ của Vua Lê Đại Hành, cha ông làm quan dưới triều vua Trần Thái Tông, có nhiều công lao nên vua ban quốc tính nhà Trần.</span><b><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></b><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trong cuộc kháng chiến chống Mông –Nguyên lần thứ hai, ông đánh nhau với giặc trên bãi Đà Mạc (tức là Thiên Mạc, nay là bãi Mạn Trù). Ông chiến đấu rất ngoan cường nhưng giặc quá đông, bao vây vòng trong vòng ngoài. Cuối cùng chúng bắt được ông.</span><b><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></b><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Khi bắt được ông, chúng tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc. Chúng hỏi ông <i>“Có muốn làm vương đất Bắc không”</i>. Ông thét to và chỉ vào mặt bọn giặc <i>“Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi<sup> </sup>”</i>. Câu nói của Trần Bình Trọng là một trong những câu nói nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm và trở thành biểu tượng của tinh thần yêu nước. Không thể mua chuộc được Trần Bình Trọng, quân giặc đã giết ông.</span><b><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">7. TRẦN QUỐC TOẢN (1267-1285).</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trần Quốc Toản là con của Trung Thành Vương, cháu nội của Nhân Đạo Vương được phong là Hoài Văn Hầu, mới 15 tuổi, vì không được dự hội nghị quân sự Bình Than bàn kế chống giặc Nguyên, tay cầm quả cam mà bóp nát lúc nào không biết.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trần Quốc Toản đã huy động hàng ngàn gia nô và trai tráng trong vùng mua sắm vũ khí, đóng chiến thuyền để đánh giặc, may lá cờ thêu sáu chữ vàng <i>“Phá cường địch, báo hoàng ân”</i> (Phá giặc mạnh, báo ơn vua).</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trong cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai, khi đối trận với giặc, Trần Quốc Toản tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh. Trần Quốc Toản góp phần vào chiến công to lớn ở Tây Kết và giải phóng kinh thành Thăng Long.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trong trận đánh rút chạy trên sông Như Nguyệt, Trần Quốc Toản đã hi sinh. Vua Trần Nhân Tông thương tiếc, đã làm bài văn tế và phong tước cho Trần Quốc Toản làm Hoài Văn Vương.<b> </b>Người thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản trở thành biểu tượng sáng ngời của tuổi trẻ yêu nước Việt Nam. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">8. YẾT KIÊU.</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế, quê ở làng Hạ Bì, huyện Gia Lộc, nay là huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Dương. Ông là một trong 5 tùy tướng tài giỏi của Hưng Đạo Vương là Cao Mang, Đại Hành, Nguyễn Địa Lô, Dã Tượng và Yết Kiêu. Yết Kiêu vốn quen nghề sông nước, nên rất giỏi bơi lội và rất mưu trí. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Khi giặc Mông - Nguyên kéo mấy trăm chiếc thuyền theo đường biển vào đánh cướp Đại Việt. Yết Kiêu không quản mùa đông giá rét, đêm đêm lặn xuống biển đục thủng thuyền giặc. Thuyền giặc bị nước biển chảy ồ vào, chìm ngay. Quân giặc rất sợ. Lúc  đầu chúng không hiểu vì lẽ gì. Sau giặc chăng lưới bắt được Yết Kiêu. Chúng hỏi ông <i>“Nước mày có bao nhiêu người có tài bơi lặn như mày”.<b> </b></i>Ông đáp <i>“Nước Nam có nhiều người có tài bơi lặn như tôi. Hiện nay vẫn còn ẩn nấp ở dưới biển để đục thuyền, chỉ một mình tôi chẳng may bị bắt. Nếu các ông tha tôi ra, tôi sẽ dẫn các ông đến chỗ ẩn nấp, tha hồ cho các ông bắt”</i></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Bọn giặc hí hửng. Chúng lấy một chiếc thuyền nhẹ chở ông đi. Thừa lúc giặc sơ ý, ông nhảy tùm xuống biển lặn trốn về doanh trại của ta. Quân giặc đành trơ mắt nhìn nhau căm tức.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Tháng 6-1285, ông cùng Phạm Ngũ Lão và Dã Tượng chỉ huy quân phục ở Tây Kết, góp phần đánh tan 5 ngàn quân Nguyên, giết Toa Đô tại trận.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi ông mất, được ban tặng chức Đại vương, phong làm Phúc thần. Vua nhà Trần cho dựng đền ở bến sông Hạ Bì (làng Hạ Bì - Hải Dương) quê hương của Yết Kiêu để thờ phụng. Hội đền Yết Kiêu hàng năm được mở vào ngày 8 tháng 2 âm lịch để ghi nhớ công ơn ông trong cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">9.</span></b><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></b><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">PHẠM NGŨ LÃO (1255-1320).</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Phạm Ngũ Lão người làng Phù Ủng, Đường Hào (nay là Ân Thi, Hưng Yên) sinh năm 1255 trong gia đình nhà nghèo, bố mất sớm, phụng dưỡng mẹ già rất hiếu thảo. Là một người thông minh ham đọc sách, rèn luyện võ nghệ nên tinh thông cả văn và võ.<b> </b>Ông được Hưng Đạo Vương thu nhận khi đạo quân của Hưng Đạo Vương đi tập trận qua làng Phù Ủng. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Đúng như tài nhìn người của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão trong cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai và ba đã lập nên nhiều chiến công ở Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng Giang và được phong chức Kim Nghiêu Đại tướng quân. Phạm Ngũ Lão phục vụ trải qua 3 đời vua nhà Trần, được phong chức Điện súy Tướng quân.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Năm 1320 Phạm Ngũ Lão mất tại phủ đệ vua ban ở vườn cam trong thành, thọ 66 tuổi. Vua đã nghỉ chầu 5 ngày, đó là ân điển đặc biệt. Dân làng Phù Ủng lập đền thờ ngay trên nền đất nhà cũ ở phía Tây làng.</span></span></p>
</div>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8 </span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><b><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo</span></u></i></b><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">:</span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Lịch sử Việt Nam tập 3 của Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại T.P HCM, NXB trẻ năm 2007. </span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần, NXBGD VN năm 2010. </span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam của Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB văn hóa –thông tin năm 2008. </span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3 của NXB Trẻ năm 2008. </span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010, các nhân vật lịch sử của NXBGD.</span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Việt Nam anh Kiệt – Đặng Duy Phúc – NXB VHTT – 2010.</span></i></span></p>
<p><span style="color:#0000ff"> </span></p>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 19/10/2011 10:55 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 106.884</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 04:19:13 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=83</guid>
    </item>
    <item>
      <title>12 ĐỜI VUA TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=82</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass4FB999A629814C59B6D8DAA433EAC346><div class=ExternalClass2A3000A105BB4A01AD89ECFF8721468F>
<div class=ExternalClass2E6A1F217AF0441A9B3EFFC203053A6E>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1. TRẦN THÁI TÔNG (1225-1258) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên thật là Trần Cảnh, nguyên quán Làng Tức Mặc, Phủ Thiên Trường, nay là xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Trần cảnh sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218), con thứ của ông Trần Thừa, thân mẫu người họ Lê. Ngày 11 tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Trần Cảnh chính thức lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung, phong Lý Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh Hoàng hậu, phong Trần Thủ Độ là Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sự. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong thời gian ở ngôi, vua đã đích thân dẫn quân đánh thắng quân Mông – Nguyên lần thứ nhất khi chúng sang xâm lược nước ta. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1258), vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng Hoàng để cùng coi việc nước. Ngày mùng một tháng 4 năm Đinh Sửu (1277), Thái Thượng hoàng mất, thọ 59 tuổi, ở ngôi được 33 năm, làm Thái thượng hoàng 19 năm. Trong thời gian ở ngôi, vua đã đặt ba niên hiệu Kiến Trung (1225-1232), Thiên Ứng Chính Bình (1232-1251), Nguyên Phong (1251-1258). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2. TRẦN THÁNH TÔNG (1258-1278)<span style="">  </span></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên thật là Trần Hoảng, là con trưởng của vua Thái Tông, mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng thái hậu Lý Thị. Vua sinh ngày 25 tháng 9 năm Canh tý (1240), ngay sau khi sinh đã được lập làm thái tử. Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1258) được vua Trần Thái Tông truyền ngôi. Vua lên ngôi hoàng đế đổi niên hiệu là Thiệu Long năm thứ 1. Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần, vua nhường ngôi cho con là Thái tử Khâm để lên làm Thượng hoàng 12 năm.<span style="">    </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trần Thánh Tông là một vị vua nhân từ độ lượng, hết lòng chăm lo việc nước. Về đối nội, nhà vua khuyến khích khai khẩn đất hoang, mở mang điền trang thái ấp bằng cách chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc, giúp họ an cư lạc nghiệp. Nhà vua khuyến khích việc học hành bằng cách mở các khoa thi để lựa chọn người tài mà trọng dụng, thời Trần đã xuất hiện <i style="">“Lưỡng quốc trạng nguyên” Mạc Đĩnh Chi</i>, nhà sử học Lê Văn Hưu đã viết bộ quốc sử đầu tiên của nước ta là Đại Việt Sử Ký. Về đối ngoại, Vua Trần Thánh Tông đã thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo nhưng rất kiên quyết, nhằm bảo vệ danh dự và nền độc lập của tổ quốc. Mặt khác, quan tâm đến việc luyện tập quân sĩ, tích trữ lương thực, vũ khí chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai. Ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần – 1290 Thái thượng hoàng mất ở cung Nhâm Thọ, hưởng thọ 51 tuổi. Trong thời gian 20 năm ở ngôi, vua đã đặt 2 niên hiệu: Thiệu Long (1258-1272), Bảo Phù (1273-1278). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">3. TRẦN NHÂN TÔNG (1279-1293) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258) tại kinh thành Thăng Long, là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông, thân mẫu nguyên là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu. Trần Khâm được lập làm Thái tử tháng 12 năm Giáp Tuất. Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278), thái tử Khâm kế vị ngôi vua lấy hiệu là Nhân Tông. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, quyết đoán, được sử ca ngợi là vị anh hùng cứu nước qua cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên. Ông là người cùng với Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông tổ chức Hội nghị Bình Than, Hội Nghị Diên Hồng, bàn kế đánh quân Mông – Nguyên.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sau 15 năm làm vua, năm 1293, Trần Nhân Tông truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông và<span style="">  </span>lui về làm Thái Thượng Hoàng 6 năm, cho đến năm 1299 thì đi tu, trở thành thủy tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.<span style="">  </span>Trần Nhân Tông qua đời ngày 3 tháng 11 năm Mậu Thân (1308) tại am Ngọa Vân núi Yên Tử, thọ 50 tuổi. Trong thời gian ở ngôi, vua đã đặt hai niên hiệu: Thiệu Bảo (1279-1285), Trùng Hưng (1285-1293). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">4. TRẦN ANH TÔNG (1293-1314) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua tên thật là Trần Thuyên, sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tí (1276) tại Thăng Long, là con trưởng của vua Trần Nhân Tông và mẹ là Khâm Từ Bảo Khánh Hoàng Thái hậu, có hai em là Huệ Võ Vương Quốc Chuẩn và em gái là Huyền Trân Công chúa. Trần Thuyên được phong làm Thái tử vào tháng 2 năm Nhâm Thìn (1292), lên ngôi vào tháng 3 năm Quý Tị (1293). Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314) nhường ngôi cho thái tử Mạnh để làm Thái thượng hoàng 6 năm. Vua mất ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân (1320), ở ngôi được 21 năm, thọ 44 tuổi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua Trần Anh Tông khéo biết kế thừa sự nghiệp của tổ tiên, cho nên thời cuộc đi đến thái bình, chính trị trở nên tốt đẹp, đất nước ngày càng thịnh vượng, cũng là một vua tốt của triều Trần. Trong 21 năm ở ngôi, vua chỉ đặt một niên hiệu duy nhất là Hưng Long. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">5. TRẦN MINH TÔNG (1314-1329) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên thật là Trần Mạnh, con thứ tư của vua Trần Anh Tông, mẹ là Chiêu Hiến Hoàng Thái hậu Trần Thị (con gái của Bảo Nghĩa đại vương Trần Bình Trọng). Trần Mạnh sinh năm Canh Tý (1300), được lập làm Thái tử năm Ất Tị (1305). Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314) lên ngôi vua, năm Ất Tị (1329) nhường ngôi cho Thái tử Vượng để làm Thượng hoàng 28 năm, mất ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu (1357), thọ 57 tuổi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua Trần Minh Tông có lòng nhân hậu, biết tôn trọng nhân tài nên có nhiều hiền thần dưới trướng như Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Nhữ Hài, nhưng đã quá tin bọn nịnh thần giết oan chú ruột, đồng thời là bố vợ là Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong 15 năm ở ngôi, vua Trần Minh Tông đã đặt 2 niên hiệu: Đại Khánh (1314-1323), Khai Thái (1324-1329). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">6. TRẦN HIẾN TÔNG (1329-1341)<span style="">  </span></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên thật là Trần Vượng, con thứ của Trần Minh Tông, thân mẫu là bà Minh Từ hoàng thái phi Lê Thị. Trần Vượng sinh ngày 17 tháng 5 năm Kỷ Mùi (1319), được lập làm Thái tử ngày 7 tháng 2 năm Kỷ Tỵ (1329). Ngày 15 tháng 2 năm Kỷ Tị (1329) lên ngôi vua khi mới 10 tuổi, ở ngôi 12 năm, mất ngày 11 tháng 6 năm Tân Tị (1341), thọ 22 tuổi. Tuy Trần Hiến Tông làm vua nhưng việc điều khiển triều chính đều do Thái Thượng Hoàng Minh Tông đảm nhận. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong 12 năm ở ngôi, Trần Hiến Tông chỉ đặt một niên hiệu là Khai Hựu (1329-1341). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">7. TRẦN DỤ TÔNG (1341 – 1369) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên thật là Trần Hạo, con thứ 10 của vua Trần Minh Tông, thân mẫu là Hiến Từ hoàng hậu. Trần Hạo sinh ngày 19 tháng 10 năm Bính Tý (1336), lên ngôi ngày 21 tháng 8 năm Tân Tỵ (1341). Khi Thái thượng hoàng Trần Minh Tông mất, các trung thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng mất, Chu Văn An treo ấn từ quan, vua thì rượu chè ăn chơi quá độ, nên giặc giã nổi lên khắp nơi, dân khổ trăm bề. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm Kỷ Dậu (1369) vua Trần Dụ Tông mất, ở ngôi được 28 năm, thọ 34 tuổi. Trong thời gian ở ngôi, vua đã đặt hai niên hiệu Thiệu Phong (1341-1357), Đại Trị (1358-1369). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Khi vua Trần Dụ Tông mất thì bão táp ở cung đình nhà Trần nổi lên vì Hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con nuôi của Cung Túc Vương là Dương Nhật Lễ lên ngôi. Mẹ Nhật Lễ là một đào hát đã lấy kép hát là Dương Khương có thai rồi mới bỏ chồng mà lấy Cung Túc Vương sinh ra Nhật Lễ. Nhật Lễ lên làm vua muốn cải họ Dương để dứt ngôi nhà Trần, nên cho giết bà Hoàng thái hậu và nhiều quý tộc họ Trần. Các tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh giết chết Nhật Lễ (ngày 21 tháng 11 năm Canh Tuất – 1370) rồi lên Đà Giang rước Cung Tĩnh Vương về làm vua, tức là Trần Nghệ Tông. Trong thời gian soán ngôi, Dương Nhật Lễ có đặt một niên hiệu là Đại Định (1369-1370). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">8. TRẦN NGHỆ TÔNG (1370-1372). </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua tên thật là Trần Phủ, con thứ ba của Vua Trần Minh Tông, mẹ đẻ họ Lê là Minh Từ hoàng thái phi. Trần Phủ sinh vào tháng 2 năm Tân Dậu (1321), lên ngôi ngày 15 tháng 11 năm Canh Tuất (1370), ở ngôi được 2 năm, nhường ngôi làm Thái thượng hoàng 22 năm, mất ngày 15 tháng 12 năm Giáp Tuất (1394), thọ 73 tuổi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua dẹp yên được loạn bên trong, khôi phục cơ đồ nhà Trần, nhưng thiếu cương nghị, quyết đoán. Bên ngoài, vua Chiêm thành là Chế Bồng Nga đem quân đánh kinh đô Thăng Long, vua Nghệ Tông phải bỏ kinh thành chạy sang Đình Bảng lánh nạn. Ngày 9 tháng 11 năm Nhâm Tý (1372), Nghệ Tông nhường ngôi cho em là Trần Kính, lui về Thiên Trường làm Thái thượng hoàng. Trong thời gian 2 năm ở ngôi, vua đặt một niên hiệu là Thiệu Khánh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">9. TRẦN DUỆ TÔNG (1372-1377) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên thật là Trần Kính, con thứ 11 của Vua Trần Minh Tông, em vua Nghệ Tông, mẹ là Đôn Từ hoàng thái phi. Trần Kính sinh ngày 2 tháng 6 năm Đinh Sửu (1337). Khi Nghệ Tông lánh nạn, Trần Kính chiêu mộ quân lính, vũ khí, lương thực để đánh Nhật Lễ, đón Nghệ Tông về. Nghệ Tông lên ngôi 2 năm thì nhường ngôi cho Trần Kính tức Trần Duệ Tông vào ngày 9 tháng 11 năm Nhâm Tí (1972). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong một trận đánh với Chiêm Thành, vua Trần Duệ Tông không nghe lời can, khinh thường quân giặc nên tử trận ngày 24 tháng 1 năm Đinh Tị (1377). Nghệ Tông làm vua được 5 năm, thọ 40 tuổi. Trong thời gian ở ngôi, vua Trần Duệ Tông chỉ đặt một niên hiệu là Long Khánh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">10. TRẦN PHẾ ĐẾ (1377-1388) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên thật là Trần Hiện, con trưởng của vua Trần Duệ Tông, mẹ là bà Gia Từ hoàng hậu Lê Thị. Vua sinh ngày 6 tháng 3 năm Tân Sửu (1361). Khi vua Trần Duệ Tông chết ở mặt trận phương Nam, Thượng hoàng Nghệ Tông lập Trần Hiện lên ngôi vua ngày 13 tháng 5 năm Đinh Tỵ (1377). Vua nhu nhược nên quyền lực ngày càng rơi vào tay Hồ Quý Ly. Thượng hoàng Nghệ Tông giáng Phế Đế xuống làm Linh Đức Đại Vương, sau đó bức tử vào ngày 6 tháng 12 năm Mậu Thìn (1388) thọ 27 tuổi. Trong thời gian 11 năm ở ngôi, vua chỉ đặt một niên hiệu là Xương Phù. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">11. TRẦN THUẬN TÔNG (1388-1398)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên thật là Trần Ngung, con út của vua Trần Nghệ Tông, thân mẫu là Lê Thái hậu. Vua sinh năm Mậu Ngọ (1378), lên ngôi năm Mậu Thìn, ở ngôi được 10 năm, đến tháng 3 năm 1398 bị Hồ Quý Ly ép nhường ngôi cho con trai là Trần Án (Trần Án là cháu ngoại Hồ Quý Ly) để đi tu ở cung Bảo Thanh tại núi Đại Lại (Thanh Hóa). Xuất gia hơn 1 năm thì bị Hồ Quý Ly bức tử chết vào tháng 4 năm Kỷ Mão (1399), thọ 21 tuổi, Vua thật ra chỉ giữ ngôi trên hình thức, mọi quyền lực điều hành đã vào tay bố vợ là Hồ Quý Ly. Trong thời gian ở ngôi, vua Trần Thuận Tông đặt niên hiệu duy nhất là Quang Thái.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">12. TRẦN THIẾU ĐẾ (1398-1400) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên thật là Trần Án, con trưởng của Trần Thuận Tông, thân mẫu là con gái của Hồ Quý Ly, tước hiệu Khâm Thánh hoàng thái hậu. Vua sinh năm Bính Tý (1396), lên ngôi ngày 15 tháng 3 năm Mậu Dần (1398). Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1400) bị Hồ Quý Ly buộc nhường ngôi, giáng làm Bảo Ninh Đại Vương. Vua vốn là cháu ngoại của Hồ Quý Ly nên không bị giết, nhưng không rõ mất vào năm nào. Trong thời gian ở ngôi, vua có niên hiệu là Kiến Tân. </span></p>
</div>
</div>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8 </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo</span></u></i></b><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">:</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Lịch sử Việt Nam tập 3 của Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại T.P HCM, NXB trẻ năm 2007. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần, NXBGD VN năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam của Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB văn hóa –thông tin năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3 của NXB Trẻ năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010, các nhân vật lịch sử của NXBGD.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Việt Nam anh Kiệt – Đặng Duy Phúc – NXB VHTT – 2010.</span></i></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 19/10/2011 11:10 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 581.142</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 04:15:14 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=82</guid>
    </item>
    <item>
      <title>PHẦN 2 : LỊCH SỬ VIỆT NAM THẾ KỶ X</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=63</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassF04F71FB40AE46E9847D8CEDC2742970><div class=ExternalClass0B3820390F9547FCA1999927E3A520C6>
<div class=ExternalClass24E52644042C45D08E7C3E1821DFCE76>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">I/ THỜI KỲ XÁC LẬP NỀN TỰ CHỦ (906-938)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Từ cuối thế kỷ IX trở đi, nhà Đường (Trung Quốc) bị tan rã một cách mau chóng, đại thần chỉ lo lập mưu cát cứ, chính trị suy đồi, kỷ cương đổ nát, kinh tế kiệt quệ, đời sống nhân dân bi đát… Đó là điều kiện khách quan thuận lợi cho cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Và cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ đã bùng nổ và thắng lợi nhanh chóng trong bối cảnh đó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1/ Họ Khúc dựng nền tự chủ ban đầu (906- 930)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu (nay là tỉnh Hải Dương và Hải Phòng). Khúc Thừa Dụ là hào trưởng, tính khoan hòa thương người, được dân chúng suy tôn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Giữa năm 905, nhân lúc triều đại nhà Đường (Trung Quốc) suy vong, chính quyền đô hộ Giao Châu hoang mang, bất lực, Khúc Thừa Dụ lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền, chiếm được thành Tống Bình (Hà Nội).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.3pt;color:blue;font-size:10pt">Tháng 2 năm 906, trước tình hình rối ren, vua Đường (Trung Quốc) đành phải chấp nhận đề nghị của Khúc Thừa Dụ là phong cho ông chức Tiết Độ xứ Tĩnh Hải (An Nam đô hộ phủ trước đây).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Như vậy trên thực tế, cũng như trên danh nghĩa, Khúc Thừa Dụ nắm toàn quyền kiểm soát trấn Tĩnh Hải, thiết lập một chính quyền tự chủ do ông đứng đầu, thay cho chính quyền đô hộ nhà Đường. Khúc Thừa Dụ đã chấm dứt ách thống trị hơn một ngàn năm của phong kiến phương Bắc, đặt cơ sở ban đầu cho nền độc lập dân tộc. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tháng 7 năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo tiếp tục sự nghiệp tự chủ và đã thực hiện một số cải cách hệ thống chính quyền tự chủ theo thể chế thống nhất, tập trung quyền lực vào một mối. Điểm nổi bật trong đường lối chính trị của Khúc Hạo là thực hiện “chính sự khoan dung, giản dị, nhân dân được yên vui”. Ông đã cho sửa đổi lại chế độ điền tô, thuế má, lực dịch nặng nề của thời Đường, ra lệnh “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, kể rõ quê quán,…”</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trên thực tế, Khúc Hạo đã đặt được nền tảng cho một tổ chức nhà nước mới. Tuy chưa có quốc hiệu, đế hiệu, chưa lập kinh đô, nhưng nhà nước của họ Khúc có cơ sở xã hội vững vàng hơn các thời trước.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cuộc cải cách được thực hiện trong khoảng 10 năm thì Khúc Hạo mất. Khúc Thừa Mỹ thay cha trong bối cảnh chính trị có xu hướng trở nên phức tạp.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 930, nhà Nam Hán đánh tan quân Khúc Thừa Mỹ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Khúc Thừa Mỹ đã không giữ được sự nghiệp tự chủ của cha ông. Song các hào trưởng ở Hoan Châu (Nghệ An - Hà Tĩnh), Ái Châu (Thanh Hóa) vẫn tiếp tục giữ được quyền kiểm soát những vùng đất rộng lớn ở đồng bằng sông Mã, sông Cả. Một tướng tài của họ Khúc là Dương Đình Nghệ (còn gọi Dương Diên Nghệ)<span>  </span>đã kế nghiệp chủ tướng, giữ vững quyền tự chủ ở phần đất quê hương Ái Châu (Thanh Hóa). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2/ Dương Đình Nghệ và công cuộc khôi phục đất nước (931- 937)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Dương Đình Nghệ, một hào trưởng ở vùng Ái Châu. Ông quy tụ được 3000 nghĩa quân, ngày đêm rèn luyện võ nghệ, luyện tập quân sự, chuẩn bị thời cơ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tháng 3 năm 931, Dương Đình Nghệ tiến quân bao vây thành Đại La (trung tâm đầu não của chính quyền thống trị Nam Hán) và chiếm được thành, tiêu diệt cả quân chiếm đóng lẫn quân cứu viện của nhà Nam Hán, giành lại quyền tự chủ cho đất nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sau thắng lợi, Dương Đình Nghệ tự xưng Tiết độ sứ và phong các tướng lĩnh trấn trị các châu khác trong khắp Tĩnh Hải (Giao Châu). Dưới ông có khá nhiều tướng tài như : Đinh Công Trứ; Ngô Quyền …</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tháng 4 năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn, một viên bộ tướng dưới quyền giết để đoạt chức Tiết độ sứ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><strong><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">3/</span></strong><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> <b>Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 :</b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Được tin, tướng tài và cũng là con rể của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền kéo quân từ Ái Châu (Thanh Hóa) tiến ra Bắc trừng trị Kiều Công Tiễn. Quá khiếp sợ, Kiều Công Tiễn sai người sang Nam Hán cầu cứu. Lúc bấy giờ Nam Hán là một nước giàu mạnh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua Nam Hán phong con trai là Vạn Vương Hoằng Thao (còn gọi Hoằng Tháo) làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, sau đó đổi thành Giao Vương với hàm ý là phong đất Giao Châu cho Hoằng Thao. Hoằng Thao được giao thống lĩnh quân thủy vượt biển sang Giao Châu, mượn tiếng là giúp Kiều Công Tiễn đánh Ngô Quyền nhưng thực chất là xâm lược nước ta lần thứ hai. Bên cạnh quân chủ lực đó, vua Nam Hán thân chinh dẫn một đạo quân khác đến đóng ở Hải Môn (Quảng Tây – Trung Quốc) yểm trợ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.3pt;color:blue;font-size:10pt">Mùa đông năm 938, Ngô Quyền chỉ huy quân tiến ra thành Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn. Trừ xong cuộc phản loạn, Ngô Quyền bắt tay vào chuẩn bị cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Do nắm vững lộ trình đường thủy của quân Nam Hán, Ngô Quyền vạch kế hoạch tiêu diệt quân chủ lực của Hoằng Thao ở ngay cửa sông Bạch Đằng. Lúc bấy giờ, cửa sông Bạch Đằng còn nằm sâu phía trong nội địa hơn hiện<span>  </span>nay. Đó là nơi hiểm yếu, sông rộng hơn cả cây số vì hứng nước khắp cả vùng Đông Bắc đổ ra vịnh Hạ Long. Vùng cửa sông Bạch Đằng vừa rộng lại vừa thấp nên chịu ảnh hưởng của thuỷ triều rất lớn, mức chênh lệch giữa hai con nước có khi đạt đến hơn 3 mét. Những khi thủy triều lên gặp gió chướng, sóng bạc đầu nổi trắng xoá, dâng nước cao ngất một vùng, nên sông có tên là Bạch Đằng. Bờ phía Nam sông Bạch Đằng là dãy núi đá vôi Tràng Kênh cao ngất với nhiều hang động, khe nứt, các thung lũng kín đáo cho việc giấu quân, luyện quân. Sông Bạch Đằng là đường thủy chủ yếu thông thương giữa đồng <span style="letter-spacing:-0.1pt">bằng Giao Châu với biển Đông, là cửa ngõ vùng Đông Bắc. Vì vậy, muốn vào vùng trung tâm đồng bằng Giao Châu thì đội thuỷ quân Nam Hán bắt buộc phải đi qua cửa sông Bạch Đằng. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lợi dụng địa thế và chế độ thủy triều vùng cửa sông Bạch Đằng, Ngô Quyền cho quân lính và dân binh chặt những cây gỗ cứng và cao to làm thành các cọc nhọn và bọc đầu sắt và đóng xuống sông theo những dãy dài kiên cố ở hai bên cửa sông chỉ chừa lại một lối hẹp giữa dòng khi nước triều xuống. Ngô Quyền còn tập trung một lực lượng lớn mai phục ven sông và trên bờ phía trên bãi cọc một quãng. Phía dưới bãi cọc, bố trí một vài cánh quân nhỏ làm nhiệm vụ khiêu chiến, nghi binh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.2pt;color:blue;font-size:10pt">Cuối năm 938, Hoằng Thao cho quân ồ ạt tiến vào sông Bạch Đằng, Ngô Quyền cho một toán quân nhỏ với các thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi bỏ chạy. Các chiến thuyền của Hoằng Thao lập tức đuổi theo tiến sâu vào phía cửa sông Bạch Đằng, vượt qua bãi cọc vào lúc thủy triều còn lên cao. Đợi cho chiến thuyền cuối cùng của quân Nam Hán lọt vào trận địa cọc cũng là vừa lúc nước triều rút xuống, theo hiệu lệnh của Ngô Quyền, cánh quân từ thượng nguồn xông ra đánh vỗ mặt thuyền chỉ huy của quân Nam Hán. Đồng thời, cánh quân mai phục hai bên bờ nhất tề xông ra đánh bọc sườn vào đoàn thuyền chiến. Bị sa vào trận địa phục kích, Hoằng Thao vội vàng ra lệnh cho các chiến thuyền rút lui nhưng thủy triều đang xuống mạnh, các hàng cọc nhọn nhô lên, các thuyền Nam Hán to lớn nên không xoay chuyển nhanh được. Trong khi đó, cánh quân chủ lực tấn công thẳng vào và các toán quân nhỏ phía hạ lưu xông ra khóa chặt lối thoát của quân Nam Hán. Do vậy, binh thuyền quân Nam Hán thủng vỡ và bị nhấn chìm xuống lòng sông Bạch Đằng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nghe tin bại trận, Hoằng Thao bỏ mạng, vua Nam Hán kinh hoàng và hạ lệnh rút quân từ bỏ ý định xâm lược nước ta. Chiến thắng Bạch Đằng vào năm 938 ghi vào lịch sử chiến công hiển hách, thể hiện tài năng quân sự và ý chí quyết thắng của Ngô Quyền, khẳng định quyền tự chủ của dân tộc ta tiếp tục được giữ vững. Chiến thắng Bạch Đằng cũng nói lên trí tuệ, sự lớn mạnh của nhân dân ta có khả năng đánh thắng địch, không chỉ bằng cách đánh du kích mà ở một mức nào đó bằng cả lối đánh chính quy, không chỉ trên bộ mà cả bằng thủy chiến.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nhà sử học Ngô Thì Sĩ nhìn lại kỳ công của Ngô Quyền nhận định : “Trận thắng lợi trên sông Bạch Đằng là cơ sở sau này cho việc khôi phục quốc thống. Những chiến công các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào cái uy danh lẫm liệt để lại ấy… Trận Bạch Đằng này là vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu”.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">II/ NHÀ NGÔ - NHÀ ĐINH - NHÀ TIỀN LÊ (939 - 1009)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1/ Nhà Ngô (939- 965)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 939, sau khi đánh bại cuộc xâm lược lần thứ hai của quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương, bãi bỏ chế độ Tiết độ sứ, xây dựng triều đình mới, lấy Cổ Loa<span>  </span>- kinh đô cũ của nước Âu Lạc thuở xưa (Đông Anh – Hà Nội ngày nay) làm kinh đô.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Ngô Quyền bắt tay xây dựng một Nhà nước độc lập. Ở triều đình trung ương, ông đặt bộ máy quản lý Nhà nước, đặt lại chức tước cho các quan văn võ, quy định lễ nghi triều đình. Ở địa phương, châu, huyện vẫn giữ nguyên, giáp, làng vẫn là đơn vị hành chính, duy trì vai trò quản lý của các hào trưởng, thổ hào. Bên cạnh đó, ông tìm cách liên kết các địa phương, các miền theo những quy định của chính quyền trung ương nhằm ngăn chặn xu hướng phân ly cát cứ. Nhờ cố gắng nên trong thời gian ngắn, cơ cấu quản lý hành chính thống nhất trong cả nước hình thành, mang<span>  </span>tính chất của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sáu năm sau, năm 944, Ngô Quyền mất, đất nước rơi vào thời kỳ hỗn loạn, tranh giành ngôi vua, tranh giành cát cứ, nhiều cuộc nổi loạn nổ ra: <i>“Bấy giờ (năm Đinh Mão-965), trong nước không có chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trưởng, không ai chịu thống thuộc ai…”<a title="" href="/_layouts/FCKEditor/editor/fckeditor.html?InstanceName=ctl00_m_g_9ff2dd1d_c1d6_448d_badd_806e071325fe_ctl00_txtContent&amp;Toolbar=Default#_ftn1" name="_ftnref1"><span class=MsoFootnoteReference><span><span class=MsoFootnoteReference><b><span style="font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">[1]</span></b></span></span></span></a></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong số các sứ quân không ít người vốn là tướng lĩnh hoặc là dòng dõi của Ngô Quyền, đã góp nhiều công sức xây dựng nhà Ngô. Khi cuộc tranh chấp ngôi báu giữa Dương Tam Kha và các con trai Ngô Quyền nổ ra, họ rời bỏ triều đình, quay về hùng cứ những vùng vốn là đất bản bộ hoặc đất được cấp dưới thời Ngô Quyền. Số ít các sứ quân còn lại là những thổ hào, hào trưởng có thế lực ở địa phương, quyền uy vẫn được giữ nguyên dưới thời Ngô Quyền. Nhiều sứ quân khá mạnh về quân sự, từng là tướng của Ngô quyền, từng tham gia cuộc chiến đấu chống quân Nam Hán hoặc các cuộc chinh phạt, nên có nhiều kinh nghiệm tổ chức chiến đấu, khi lui về trang trại, họ mang theo quân lính bản bộ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tình trạng cát cứ và tranh chấp của các lực lượng địa phương kéo dài nhiều năm, tập trung nhất là các năm 965 - 967, làm cho đất nước suy yếu, đời sống nhân dân khó khăn.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2/ Nhà Đinh (968-980)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đinh Bộ Lĩnh (con trai Đinh Công Trứ), người vùng Hoa Lư - châu Đại Hoàng (Ninh Bình ngày nay). Từ nhỏ, Đinh Bộ Lĩnh đã thể hiện tài năng và trí tuệ của một chỉ huy. Ông tạo dựng uy tín, thu phục lòng người, xây dựng một lực lượng mạnh tại vùng Hoa Lư, củng cố và mở rộng khu vực chiếm giữ của mình. Ông liên kết với sứ quân Trần Lãm, một thế lực cát cứ lớn ở vùng đất phía Nam đồng bằng Bắc bộ, nơi có địa thế hiểm trở. Là người có tài thao lược, Đinh Bộ Lĩnh đã dùng mọi kế sách, tùy mỗi sứ quân mà tính cách đánh thích hợp (bằng quân sự hoặc bằng liên kết, hay dùng mưu dụ hàng, thương thuyết,…). Được sự ủng hộ của nhân dân, ông đánh đâu thắng đó nên được gọi là Vạn Thắng Vương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đến năm 967, loạn 12 sứ quân hoàn toàn bị tiêu diệt, đất nước được thống nhất sau giai đoạn chia cắt, loạn ly.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh được suy tôn lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, chọn Hoa Lư (Ninh Bình) làm kinh đô. Năm 970, đặt niên hiệu là Thái Bình, biểu hiện ý thức độc lập tự chủ của nhà Đinh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Để bảo vệ đất nước, Đinh Tiên Hoàng thành lập đội quân thường trực với số lượng đông. Ông xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ, phong cho con là Đinh Liễn là Nam Việt Vương, Lê Hoàn là Thập đạo tướng quân. Ông quản lý toàn bộ dân cư và lãnh thổ. Ruộng đất một phần phân cho quan lại, công thần và hoàng tộc, phần còn lại giao cho làng xã để chia ruộng công theo định kỳ và định suất cho nông dân cày. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tháng 10 năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trai là Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết chết. Nên triều thần cùng tôn con trai thứ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn lên ngôi hoàng đế khi ấy được 6 tuổi. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được nắm quyền nhiếp chính, xưng là Phó Vương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nội bộ nghi ngờ lẫn nhau, dẫn đến tình trạng rối loạn, các tướng lĩnh kéo binh chống lại Lê Hoàn. Song song đó, nhà Tống (Trung Quốc) cũng nhân cơ hội nước ta đang rối loạn mà kéo quân tiến đánh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">3/ Nhà Tiền Lê (980 - 1009)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.3pt;color:blue;font-size:10pt">Trước tình cảnh đó, Dương Thái Hậu - mẹ của Đinh Toàn, giao cho Lê Hoàn chuẩn bị chống quân xâm lược. Quân sĩ tôn Lê Hoàn lên ngôi vua để lãnh đạo quân dân, tổ chức cuộc kháng chiến</span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lê Hoàn lên ngôi, xưng là hoàng đế, tức Đại Hành hoàng đế. Đổi niên hiệu là Thiên Phúc, lập nên nhà Lê (sử gọi là nhà Tiền Lê). Sau khi lên ngôi ông đã thân chinh chỉ huy công cuộc phòng thủ, chỉ huy thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm 980 - 981. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Sau cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán năm 938 của Ngô Quyền, cuộc kháng chiến chống Tống năm 980 - 981 của Lê Đại Hành cho thấy nghệ thuật quân sự vào thế kỷ thứ X đã đạt được những đỉnh cao rực rỡ. Sau chiến thắng, Lê Đại Hành chú tâm vào việc xây dựng đất nước. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vào lúc này, kỹ thuật canh tác lúa nước đã đạt đến trình độ cao. Một hệ thống thuỷ lợi nhằm điều hoà nước trên vùng đồng bằng sông Hồng đã bước đầu được thực hiện. nhiều con sông, kênh được đào vét, một số đê ven sông lớn được hình thành ngăn lũ lụt để sản xuất. Tô thuế của Nhà nước trong thời kỳ Đinh, Tiền Lê tương đối đơn giản, nhẹ nhàng, điều đó đã góp vào việc khuyến khích sản xuất nông nghiệp, tạo sự ổn định đất nước. Năm 968 nhà Đinh cho đúc tiền “Thái Bình Thông bảo”, năm 984 nhà Tiền Lê cho đúc tiền “Thiên Phúc Trấn bảo”. Đây là những đồng tiền đầu tiên được phát hành với danh nghĩa của một nhà nước độc lập. Việc phát hành tiền tệ chứng tỏ nền thương nghiệp đã có sự phát triển, việc mua bán giao lưu hàng hoá tăng. Kinh đô Hoa Lư, là trung tâm văn hoá lớn nhất lớn nhất nước. Có nhiều công trình kiến trúc vừa mang tính cung đình nhưng cũng vừa mang tính đại chúng. Phật giáo rất phát triển. Các nhà sư được triều đình trọng thị và ưu đãi, được mời tham dự các công việc của nhà nứơc và giữ những chức vụ quan trọng. Thời Tiền Lê, Sư Vạn Hạnh rất được vua kính trọng, thường tham khảo ý kiến của ông đối với những việc trọng đại.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lê Đại Hành làm vua được 24 năm, mất năm 1005, thọ 65 tuổi. Sau khi ông mất, các hoàng tử tranh ngôi. Cuối cùng Lê Long Đĩnh lên ngôi vua. Lê Long Đĩnh không phải là một vị vua tốt, ông thực hiện chính sách dã man (đốt người, xẻo thịt, thả người trôi sông…) với những hành vi phản kháng, khinh mạn các triều thần, đam mê tửu sắc làm cho chính sự đổ nát, lòng người chán nản. Ông ở ngôi được 4 năm thì mất (1005 - 1009). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cuối triều Tiền Lê, xu hướng cát cứ lại từng lúc nổi dậy. Triều đình áp dụng chính sách quân sự để giữ vững sự thống trị. Cuộc sống của nhân dân trở nên vô cùng khổ sở. Thêm vào đó sự cai trị vô cùng tàn bạo của Lê Long Đĩnh càng làm tăng sự căm phẫn, bất bình, chán ghét nhà Tiền Lê trong dân chúng, binh sĩ, quan lại, tăng sư. Vì vậy, sau khi Lê Long Đĩnh mất, quan lại, tăng sư đã tôn Lý Công Uẩn lên làm vua lập nên triều Lý vào ngày 02 tháng 11 năm Kỷ Dậu (1009).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lý Công Uẩn, người châu Cổ Pháp (huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh ngày nay). Ông vốn là con nuôi của nhà sư Lý Khánh Vân ở chùa Cổ Pháp, là người thông minh đĩnh ngộ. Lớn lên ông trở thành võ tướng tài ba giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ (Tổng chỉ huy quân đội cấm vệ) trông coi đội quân cấm vệ của triều đình nhà Tiền Lê. Ông đã thu phục được nhân tâm và sự ủng hộ của quan lại, quân sĩ triều đình cùng giới sư sãi. Khi lên ngôi ông chọn niên hiệu là Thuận Thiên, lấy năm Canh Tuất (1010) làm năm mở đầu cho triều đại. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tháng 7 năm 1010, Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long ở đồng bằng Bắc Bộ bên bờ sông Hồng (Hà Nội ngày nay). Trong “Chiếu dời đô”, Lý Công Uẩn nói <i>“Ở vào nơi trung tâm trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi; ở giữa Nam Bắc, Đông Tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỉ nơi này là thắng địa. Thực là chốn hội tụ của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời”</i>. Vua Lý cũng nói rõ mục đích dời kinh đô là nhằm <i>“mưu chọn chỗ ở chính giữa làm kế tục cho con cháu ức muôn đời”.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.2pt;color:blue;font-size:10pt">Việc dời đô về Thăng Long của Lý Công Uẩn là s</span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">ự kiện q<span style="letter-spacing:-0.2pt">uan trọng, d</span>ời đô ra vùng trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, đây một vùng đất trù phú, đông dân, nhiều tiềm năng kinh tế, văn hóa đã chứng tỏ dân tộc và đất nước bước vào một thời kỳ phát triển mới, bắt đầu vươn dậy với khí thế Thăng Long – Rồng bay lên và <span style="letter-spacing:-0.2pt">thể hiện sự vươn lên, hưng thịnh của phong kiến Việt Nam.</span></span></p>
<p align=center style="text-align:center;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">VIỆC DỜI ĐÔ RA THĂNG LONG CỦA NHÀ LÝ VÀO NĂM 1010</span></b></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Vùng đất Thăng Long – Hà Nội là một trong vùng đất trải qua trường kỳ lịch sử dân tộc. Thăng Long – Hà Nội là “nơi trung tâm bờ cõi”, “nơi đô thành bậc nhất”, “nơi hội họp của bốn phương”. Hà Nội là kinh đô rất sớm của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam và từ năm 1945 là Thủ đô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, sau đổi thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,<span>  </span>ngày càng thể hiện chính trị sâu sắc hơn tính chất tiêu biểu về văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của cả nước, thực sự là trái tim của Tổ quốc.</span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Hà Nội nói riêng, đang nỗ lực hoạt động hướng đến kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (1010 – 2010), tích cực bảo tồn, phát huy truyền thống vẻ vang Thăng Long – Hà Nội, truyền thống dân tộc, xây dựng Thủ đô không ngừng lớn mạnh trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là trách nhiệm cao cả của mọi người Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">NHÀ LÝ DỜI ĐÔ VỀ THĂNG LONG </span></b></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong tình hình rối ren vào cuối nhà Tiền Lê, Lý Công Uẩn đã thu phục được nhân tâm và sự ủng hộ của quan lại, quân sĩ triều đình cùng giới sư sãi. Trong thời cơ ấy, Lý Công Uẩn lên ngôi vua lấy hiệu là Lý Thái Tổ, chọn niên hiệu là Thuận Thiên và lấy năm Canh Tuất (năm 1010) làm năm mở đầu cho triều đại. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Thời Tiền Lê, kinh đô đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), nơi núi non hiểm trở thích hợp cho việc phòng thủ nên đến khi nhà Lý thành lập, đất nước bước sang thời kỳ phát triển mới. Vì vậy, tháng 7 năm 1010, Lý Công Uẩn quyết định dời đô về Thăng Long ở đồng bằng Bắc Bộ bên bờ sông Hồng. </span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sự kiện dời đô ra vùng trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, một vùng đất trù phú, đông dân, nhiều tiềm năng kinh tế, văn hóa đã chứng tỏ dân tộc và đất nước bước vào một thời kỳ phát triển mới, bắt đầu vươn dậy với khí thế Thăng Long – Rồng bay lên.</span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Thành Thăng Long có chu vi hơn 20 km, được bao bọc bởi các dòng sông : sông Hồng phía Bắc và phía Đông, sông Kim Ngưu cùng sông Tô Lịch ở phía Nam, phía Tây. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ cho xây dựng các cung điện trong kinh thành Thăng Long, phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ. Mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, hướng chính Nam dựng điện Cao Minh, đều có thềm rồng, trong thềm rồng có hành lang dẫn ra xung quanh bốn phía. Sau điện Càn Nguyên dựng hai điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ. Bên tả xây điện Nhật Quang, bên hữu dựng điện Nguyệt Minh, phía sau dựng hai cung Thúy Hoa, Long Thụy làm chỗ cho cung nữ. Dựng kho tàng, đắp thành, đào hào. Bốn mặt phía Nam gọi là cửa Đại Hưng, phía Bắc gọi là cửa Diệu Đức. Năm 1011, vua cho xây tiếp cung Đại Thanh ở bên tả, kho Trấn Phúc ở trong thành. Năm 1014, vua cho đắp thành đất ở bốn mặt kinh thành Thăng Long. Việc di dời kinh đô ra Thăng Long và nhu cầu xây dựng các công trình tôn giáo đặc biệt là xây dựng chùa đã tạo điều kiện cho nghệ thuật kiến trúc dưới thời Lý phát triển mạnh mẽ. </span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua Lý Thái Tổ chia đất nước từ 10 đạo thành 24 lộ và đổi châu Cổ Pháp làm phủ Thiên Đức, đổi thành Hoa Lư làm phủ Trường An, phủ Ứng Thiên là Nam Kinh, trấn Chiêu Dương làm châu Vĩnh An. Những nơi xa kinh đô như châu Hoan, châu Ái (từ Thanh Hóa vào đến Quảng Bình) và vùng dân tộc ít người được đổi thành các trại. Dưới lộ có phủ, châu, các đơn vị hành chính cơ sở là hương và giáp. Việc phân chia các đơn vị hành chính từ trung ương tới địa phương của nhà Lý không chỉ thể hiện sự thống nhất của quốc gia mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý đất nước. </span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1010, khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã xuống chiếu bắt tất cả những kẻ tha phương phải trở về quê quán, lo việc nông. Nhờ vậy,<span>  </span>lực lượng sản xuất nông nghiệp ngay từ buổi đầu đã ổn định và bảo đảm. Để phát triển sản xuất nông nghiệp, triều Lý rất chăm lo công tác thủy lợi. Vùng đồng bằng Bắc Bộ là một vựa lúa lớn, tuy nhiên tình trạng lũ lụt của sông Hồng và các sông lớn khác đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp. Công tác thủy lợi do Nhà nước trung ương đảm nhiệm. Một hệ thống đê dọc các sông lớn đã được hình thành, đầu tiên là những đoạn đê dọc sông Như Nguyệt (sông Cầu) được đắp vào tháng 9 năm 1077. Việc đắp đê được nhà Lý coi trọng và đã ban hành nhiều quy định chặt chẽ. Năm 1103, nhà vua xuống chiếu bắt dân cư trong và ngoài kinh thành Thăng Long đắp đê ngăn nước lụt sông Hồng. Năm 1108, nhà Lý vận động dân đắp đê Cơ Xá dọc sông Hồng quãng ngoài thành Thăng Long nhằm bảo vệ kinh thành. Do Thăng Long là vùng đất hay bị ngập úng, các vua nhà Lý đã cho đào sông Lãnh Kinh vào năm 1189, sông Tô Lịch vào năm 1193 để tiêu nước… Nhìn chung, những công trình thủy lợi dưới thời Lý đã góp phần tích cực cho sản xuất nông nghiệp đạt nhiều hiệu quả lớn lao, ngăn chặn được lũ lụt và tưới tiêu nước cho việc canh tác lúa, hoa màu.</span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nghề gốm trong thời Lý được phổ biến rộng rãi khắp nơi nhưng tập trung nhất là Kinh đô Thăng Long vì nơi đây có nhiều chất liệu đất phù hợp cũng như đường giao thông thủy bộ thuận tiên. Việc xây dựng kinh đô Thăng Long trong buổi đầu đòi hỏi một khối lượng gạch, ngói, gốm, sứ khá lớn. Gạch ngói xây dựng cung điện, đền tháp, nhà ở dưới thời Lý có nhiều loại dáng tùy theo yêu cầu của công trình kiến trúc và đáng chú ý là gạch có ghi chữ Hán “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, kích thước 30x30 cm, in<span>  </span>hình nổi chim phượng hoặc hoa cúc. </span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vùng ven kinh đô Thăng Long có nghề làm giấy rất nổi tiếng ở các làng Bưởi, Yên Thái, làng Hồ, làng Nghĩa Đô… đã cung cấp cho cả nước lượng lớn các loại giấy tạo điều kiện cho việc học tập, sáng tác văn chương.</span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Việc dời kinh đô về Thăng Long đã biến nơi này thành một trung tâm thương nghiệp sầm uất và kích thích hoạt động kinh tế của khu vực đồng bằng sông Hồng. Vị trí của kinh thành Thăng Long như trong Chiếu đời đô đã nói là nơi bốn phương tụ hội vì vậy hoạt động thương nghiệp nơi đây có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ. Thời Lý, ở Thăng Long có 61 phố phường, ngoài một số phường chuyên về sản xuất tiểu thủ công nghiệp, còn lại đa phần là những phường buôn bán trao đổi hàng hóa sản vật từ khắp miền đất nước. Một số chợ có quy mô lớn được hình thành ngay tại kinh đô như các chợ ở phía Đông, chợ Tây, chợ Nam, chợ ở phường Giang Khẩu thường xuyên thu hút đông đảo người đến mua bán. Kinh đô Thăng Long đã trở thành đầu mối thương nghiệp lớn. Đã xuất hiện một tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp, giàu có và có thế lực. Để đáp ứng hoạt động thương nghiệp các triều đại nhà Lý đã cho đúc nhiều loại tiền đồng lưu hành trong nước. Nhà nước triều Lý độc quyền chế tác, thành lập các xưởng đúc tiền ở kinh đô Thăng Long (Lý Thái Tổ đúc tiền Thuận Thiên Đại bảo; Lý Thái Tông đúc tiền Càn Phù Nguyên bảo, Minh Đạo Thông bảo; Lý Nhân Tông đúc tiền Thiên Phù Nguyên bảo, Lý Thần Tông đúc tiền Thiên Thuận Thông bảo…)</span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Kể từ ngày đoàn thuyền ngự của Lý Công Uẩn dừng bên dòng sông Tô Lịch dưới chân thành Đại La mùa thu năm Canh Tuất (năm 1010) mở đầu trang lịch sử mới của vùng đất núi Nùng sông Nhị. Qua bao thăng trầm, hình thành và phát triển, địa danh Thăng Long – Hà Nội đi vào lòng người Việt Nam như một hình tượng thiêng liêng mang hồn đất nước.</span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Thế giới biết đến Việt Nam qua địa danh Hà Nội – cái tên gợi lên bao tình cảm dạt dào về những cửa ô (ô Cầu Giấy, ô Quan Chưởng, ô Chợ Dừa, ô Đống Mác…), những dãy phố bắt đầu bằng chữ Hàng (Hàng Bông, Hàng Bạc,Hàng Mã, Hàng Khoai, Hàng Đường…), những di tích lịch sử (Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình, cột cờ Hà Nội, thành cổ Hà Nội, Hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn, Văn miếu Quốc Tử Giám…) đã tạo sắc diện rất riêng trên mảnh đất này.</span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY</span></b></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;margin:6pt 0in"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.2pt;color:blue;font-size:10pt">(Tài liệu tham khảo : Lịch sử Việt Nam, tập 2 - 3 của Hội đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh – Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2007).</span></i></p>
<div style="mso-element:footnote-list"><br clear=all>
<hr width="33%" size=1 align=left>
<div id=ftn1 style="mso-element:footnote">
<p class=MsoFootnoteText style="margin:0in 0in 0pt"><a title="" href="/_layouts/FCKEditor/editor/fckeditor.html?InstanceName=ctl00_m_g_9ff2dd1d_c1d6_448d_badd_806e071325fe_ctl00_txtContent&amp;Toolbar=Default#_ftnref1" name="_ftn1"><span class=MsoFootnoteReference><span style="font-size:8pt"><span><span class=MsoFootnoteReference><span style="font-family:'Times New Roman';font-size:8pt">[1]</span></span></span></span></span></a><span style="font-size:8pt"><font face="Times New Roman"> Sách Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, trang 209, NXB KHXH – Hà Nội, 1998</font></span></p>
</div>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Giai đoạn từ thế kỷ IX đến thế kỷ X</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 2:35 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 158.394</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Giai đoạn từ thế kỷ IX đến thế kỷ X</category>
      <pubDate>Thu, 20 Oct 2011 08:25:44 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=63</guid>
    </item>
    <item>
      <title>2 ĐỜI VUA TRIỀU ĐẠI NHÀ HỒ</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=84</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassFAE8A5C746124245A3EAD15D37FEBC6A><div class=ExternalClassEC56DCB304F54B95AA0C151D467BD51A>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1. HỒ QUÝ LY (1400) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tổ tiên của Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật, di cư đến nước ta trong khoảng thời Ngũ đại thập quốc (907-960). Hồ Hưng Dật định cư tại thôn Đào Bột, phủ Diễn Châu (nay là Nghệ An) và từ đó về sau, con cháu của ông đời đời làm trại chủ của đất này. Đến đời thứ 12, một người của họ Hồ là Hồ Liêm đã bỏ Diễn Châu di cư ra đất Đại Lại (Thanh Hóa). Hồ Liêm làm con nuôi của quan Tuyên úy là Lê Huấn, nên đổi gọi là họ Lê. Vì vậy sử cũ có lúc chép Hồ Quý Ly là Lê Quý Ly. Hồ Quý Ly là cháu bốn đời của Hồ Liêm. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đường danh vọng của Hồ Quý Ly được khởi đầu từ đời vua Trần Nghệ Tông, ông liên tục được thăng quan tiến chức, năm 1387 thời vua Trần Phế Đế ông được thăng chức Đồng bình chương sự (thành viên cơ quan tối cao của nhà nước), năm 1395 được vua Trần Thuận Tông thăng tước Tuyên trung Vệ Quốc Đại Vương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1397, Hồ Quý Ly ép vua Trần Thuận Tông phải đời đô từ Thăng Long về Đại La (Thanh Hóa). Năm 1398 ép vua Trấn Thuận Tông phải nhường ngôi cho thái tử Trần An, tức Vua Trần Thiếu Đế (lúc này mới 2 tuổi). Năm 1399 Hồ Quý Ly giết vua Trần Thuận Tông.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, tự lập làm vua, đổi tên nước là Đại Ngu, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên. Tháng 12 năm 1400 nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, đề làm Thái thượng hoàng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Giữa năm 1407 khi cuộc kháng chiến chống quân minh xâm lược bị thất bại, Hồ Quý Ly bị bắt về Trung Quốc, rồi bị giết, thọ 70 tuổi (1337 – 1407). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2. HỒ HÁN THƯƠNG (1400-1407) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Là con thứ của Hồ Quý Ly, em của Hồ Nguyên Trừng. Năm 1399, xưng là Nhiếp Thái Phó. Tháng 1 năm Canh Thìn (1400) được lập làm thái tử (dẫu lúc này vua Trần Thiếu Đế vẫn đang ở ngôi và họ Hồ chỉ là ngoại thích). Tháng 12 năm 1400, được cha là Hồ Quý Ly nhường ngôi. Hồ Hán Thương làm vua hơn 6 năm (từ tháng 12-1400 đến 6-1407). Tháng 6 năm 1407, bị thua trận, rồi bị quân Minh bắt giải về Trung Quốc cùng với cha, anh và nhiều triều thần khác, sau không rõ mất năm nào. Trong thời gian ở ngôi, Hồ Hán Thương đã đặt hai niên hiệu: Thiệu Thành (1401-1402) và Khai Đại (1403-1407). </span></p>
</div>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8 </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo</span></u></i></b><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">:</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Lịch sử Việt Nam tập 3 của Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại T.P HCM, NXB trẻ năm 2007. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần, NXBGD VN năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam của Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB văn hóa –thông tin năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3 của NXB Trẻ năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010, các nhân vật lịch sử của NXBGD.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Việt Nam anh Kiệt – Đặng Duy Phúc – NXB VHTT – 2010.</span></i></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 19/10/2011 10:45 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 52.951</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 04:21:12 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=84</guid>
    </item>
    <item>
      <title>II. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=70</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass5589C2D1197341D4B0843F683185E3FA><div class=ExternalClass2C8EFDFD82F74D85A92CED1E4E868A61>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">            1. Tổ chức bộ máy nhà nước.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Bộ máy triều đình gồm 2 bộ phận: Bộ phận trung khu và các cơ quan chức năng. Còn ở địa phương, nhà Trần tổ chức chính quyền 3 cấp: phủ lộ, huyện châu, hương xã. Nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ vào thế kỷ XIV, nhà Trần còn đặt thêm 3 phủ là Lâm Bình (Quảng Bình, Quảng Trị); Thái Nguyên (Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng); Lạng Giang (Bắc Giang , Lạng Sơn). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đứng đầu các quan lại có Tam Thái (Thái Úy, Thái Phó, Thái Bảo), và Tam Thiếu (Thiếu Úy, Thiếu Phó,Thiếu Bảo) như thời nhà Lý, ngoài ra nhà Trần còn đặt thêm ba chức tam tư (Tư đồ, Tư mã, Tư không). Các quan trong triều được chia làm hai Ban là Ban văn và Ban võ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cấp lộ có chức An phủ chánh sứ và phó sứ, thông phán, trấn phủ, thông thường thân vương của triều đình giữ các chức vụ này. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cấp huyện có các chức tri huyện và chủ bạ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cấp xã có các chức đại tư xã (hoặc tiểu tư xã), xã trưởng, xả giám. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Dân chúng trong nước được chia ra làm 3 hạng: hạng tiểu hoàng nam (từ 18 tuổi đến 20 tuổi), hạng đại hoàng nam (từ 20 tuổi đến 60 tuổi) và hạng lão (trên 60 tuổi), hàng năm chính quyền hương – xã kiểm tra nhân khẩu để báo lên trên. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>2. Chế độ ruộng đất. </span></b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Có 2 hình thức là ruộng công và ruộng tư:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span class=mw-headline><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Ruộng công: </span></b></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Có hai bộ phận ruộng công, gồm ruộng đất do triều đình trực tiếp quản lý và ruộng đất công của thôn làng gồm: <span class=mw-headline>Ruộng quốc khố, sơn lăng, r</span>uộng tịch điền, r<span class=mw-headline>uộng công làng xã. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span class=mw-headline><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Ruộng tư gồm: </span></b></span><span class=mw-headline><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Thái ấp,</span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> <span class=mw-headline>điền trang</span>, r<span class=mw-headline>uộng tư của địa chủ</span><b>, </b>r<span class=mw-headline>uộng đất tiểu nông. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>3. Kết cấu xã hội thời Trần (gồm 4 cấp bậc). </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt .5in"><strong><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span></span></strong><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">* <strong><span style="font-family:Arial">Vua –Thái thượng hoàng:</span></strong></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Nhà nước Trần với bộ máy trung ương hoàn chỉnh (phỏng theo nhà Tống) là một tổ chức nhà nước trung ương tập quyền theo chế độ quân chủ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Vào thời Trần chế độ quân chủ này có điểm đặc biệt, khác với các thời trước, quyền lực tuyệt đối thuộc về một cặp Vua – Thái thượng hoàng.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>- Chế độ Thái thượng hoàng là đặc trưng cho chế độ phong kiến nhà Trần. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span><b>* <span class=postbody>Quý tộc - Quan liêu.</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Quý tộc nắm giữ những chức vụ cao trong triều đình, có ruộng phong, có trang ấp, có phủ đệ và gia nô. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Quan liêu đóng vai trò thừa hành bộ máy nhà nước. Quan liêu là những nho sĩ, không được phong đất đai, thái ấp và không có gia nô,… Là thành phần điều khiển bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Con cháu của các hoàng tộc có chức vụ có quyền “thế tập”.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Ngoài ra còn có một nét đặc trưng ở chế độ phong kiến thời Trần: chế độ hôn nhân đồng tộc.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><strong><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span></span></strong><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">* <strong><span style="font-family:Arial">Bình dân.</span></strong></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt .5in"><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Có số lượng đông đảo và đa dạng nhất, gồm nông dân, thợ thủ công, thương nhân, nho sĩ, tăng nhân…</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><strong><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span></span></strong><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">* <strong><span style="font-family:Arial">Gia nô – Nô tỳ. </span></strong></span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><strong><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span></span></strong><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Gồm 2 loại, một là làm việc trong các trang ấp của các quý tộc gọi là “gia nô” hay “tư nô”, một loại làm việc trong các cơ sở đồn điền của nhà nước. </span></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo: </span></u></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- <i>Lịch sử Việt Nam tập 3, tác giả Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh ,NXB Trẻ, năm 2007.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tiến trình Lịch sử Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục, <span> </span>năm 2009. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Thuần ,NXB Giáo dục, năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam, tác giả Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB Văn hóa – thông tin, năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3, Tác giả Nhóm Nhân văn trẻ, <span> </span>NXB Trẻ, năm 2008.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Các nhân vật lịch sử của NXB Giáo dục. </span></i></p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> TRIỀU TRẦN (1225 - 1400)</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 19/10/2011 2:50 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 17.409</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>TRIỀU TRẦN (1225 - 1400)</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 02:23:27 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=70</guid>
    </item>
    <item>
      <title>THỜI BẮC THUỘC VÀ CHỐNG BẮC THUỘC</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=60</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassB135EE14BF094A6DA301D846042CBEE5><div class=ExternalClassF4BE0BAE544B4B2D8184074416FF6DDD>
<div class=ExternalClassA47E8996963C4D36A14489B5FC5C5DC1>
<div class=ExternalClass8B5969E2A4EA499EB12524CB690C4D29>
<div class=ExternalClass2E2F8735B22D4C4B9FDE6843B4CD52BB>
<div class=ExternalClass7B0D2F49467347F99AFABC366EB9BCE4>
<div class=ExternalClassE5C100488EF34E1FB14CE7EDFF724C8B>
<div class=ExternalClassFE4ED7744EDB41BD9621E46A422ECD27>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1/ Bắc thuộc lần thứ nhất và cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.</span></i></b></p>
</div>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Triệu Đà sáp nhập đất Âu Việt vào nước Nam Việt, chia vùng đất Âu Lạc thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Triệu Đà vẫn đóng đô ở Phiên Ngung (nay là Quảng Châu), vẫn sử dụng bộ máy nhà nứơc cũ của Âu Lạc để “dùng người Việt trị người Việt”. Vì vậy trong hơn nửa thế kỷ thuộc nhà Triệu, tình hình Âu Lạc không mấy biến động. Sử cũ không hề thấy nói đến các cuộc đụng độ xảy ra.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 111 Tr.CN, nhà Hán chiếm được Nam Việt của nhà Triệu. Hán Vũ Đế chia đất Nam Việt thành 9 quận. Ở phần đất Âu Lạc trứơc đây, ngoài việc tiếp tục duy trì hai quận Giao Chỉ (từ phía Bắc Việt Nam đến Ninh Bình), Cửu Chân (từ Ninh Bình đến Hoành Sơn - Bắc Quảng Bình), lại đặt thêm một quận mới tên là Nhật Nam (từ Hoành Sơn đến Quảng Nam). Dân số của 3 quận khoảng 1 triệu người (theo Tiền Hán Thư)</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đế chế nhà Hán áp đặt ách thống trị và bóc lột nặng nề lên người dân Âu Lạc. Đặc biệt nguy hiểm là chủ trương Hán hoá dân Việt, biến đất Việt thành đất Hán. Song các cư dân Việt không chịu khuất phục. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nhân dân ta đấu tranh với kẻ thống trị để giữ vững bản sắc văn hoá, giữ gìn tiếng nói, phong tục tập quán của mình. Đồng thời tiếp thu những yếu tố tiến bộ, hợp lý của nền văn hoá Hán. Chẳng những thế, nhân dân lao động không ngừng cố gắng phát triển sản xuất. Do phát hiện ra sắt, nghề rèn sắt thành công cụ sản xuất phát triển. Kỹ thuật nông nghiệp phát triển, đã sử dụng trâu, bò cày kéo. Các hệ thống đê điều ngăn lũ, lụt, mương ngòi …được tu sửa. Các cây trồng, vật nuôi ngày một phong phú. Trong thủ công nghiệp, các nghề khai mỏ vàng, đúc đồng, rèn sắt, trồng dâu nuôi tằm cũng phát triển. Các tầng lớp giai cấp xuất hiện trong đó có tầng lớp giai cấp phong kiến quý tộc Việt Nam dần dần tiêu biểu cho lực lượng phát triển xã hội, tập hợp lực lượng nhân dân Việt Nam đấu tranh cho nền độc lập tự chủ, thoát khỏi sự thống trị phương Bắc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 34, Hán Quang Vũ triệu hồi thái thú Tích Quang, cử Tô Định, một viên quan võ, đảm trách chức Thái Thú quận Giao Chỉ. Tô Định thực thi chính sách tàn bạo với dân Âu Lạc, từ đó cuộc đối đầu âm ỉ bấy lâu giữa cư dân Âu Lạc với quan lại Hán triều lại càng thêm trầm trọng, dẫn đến cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng đánh đổ ách cai trị của Nhà Đông Hán.<span>         </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Mùa xuân năm 40, vợ Thi Sách là Trưng Trắc, con quan Lạc tướng ở Mê Linh (vùng đất từ Ba Vì đến Tam Đảo, nay thuộc Hà Tây, Vĩnh Phúc), cùng với em gái là Trưng Nhị lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đầu tiên của dân ta chống quân xâm lược Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà nhanh chóng được nhiều nơi hưởng ứng. Hai Bà đem quân tràn xuống đánh đuổi Thái Thú Tô Định, chiếm lĩnh được 65 thành trì và xưng vương gọi là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh. Khởi đầu cho việc đấu tranh giành độc lập của thời kỳ Bắc thuộc.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Khởi sự đánh chiếm đô úy trị của Thái Thú Tô Định đóng tại đây. Sau đó, từ Mê Linh Hai Bà kéo quân đến đánh huyện thành Tây Vu, tức thành Cổ Loa, rồi từ Cổ Loa vượt qua sông Hoàng, sông Đuống xuôi dòng sông Dâu đánh phá quận Giao Chỉ, bấy giờ đóng tại thành Luy Lâu (nay là huyện Thuận Thành, Bắc Ninh). Quân Hai Bà cả thủy lẫn bộ với đàn voi dũng mãnh đã nhanh chóng phá được thành. Tên Thái Thú Tô Định bỏ chạy về quận Nam Hải (Quảng Đông ngày nay).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đến mùa hạ năm 42, Hán Quang Vũ cử Mã Viện cùng đội quân hùng hậu sang đánh Hai Bà Trưng. Mùa hè năm 43, Mã Viện đến Lãng Bạc (nay thuộc huyện Gia Lương, Bắc Ninh), tại đây đã diễn ra cuộc đụng độ giữa quân sĩ của Hai Bà Trưng và Mã Viện. Nhờ vào quân số đông cả thủy lẫn bộ, Mã Viện đã đánh bại được quân của Hai Bà. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Hai Bà Trưng phải rút quân về Cấm Khê (ở dãy Ba Vì, Hà Tây), và cầm cự với quân giặc đến tháng 3 năm 43 (nhằm ngày mùng 6 tháng 2 Âm Lịch) Hai Bà gieo mình tự vẫn bên sông Hát (Hát Giang). Sau 3 năm tự chủ, cơ đồ nhà Âu Lạc lại rơi trở lại vào tay nhà Đông Hán. </span> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2/ Bắc thuộc lần thứ hai và cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, khởi nghĩa của Lý Bí:</span></i></b></p>
</div>
</div>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Âu Lạc bị ràng buộc hơn vào bộ máy cai trị của triều đình nhà Đông Hán. Hàng loạt chủ trương lớn để củng cố quyền lực được nhà Hán triển khai ở các quận, huyện. Trứơc hết là huỷ bỏ chức Huyện lệnh thế tập của các Lạc Tướng người Việt, thay bằng chức Lệnh trưởng do người Hán nắm giữ. Kế tiếp là chia tách các quận, huyện để dễ cai trị; xây dựng đường xá, thành quách để phòng giữ. Ngày nay còn dấu tích của thành Luy Lâu (còn gọi là thành Dâu thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) và thành Phong Khê (còn gọi là Kiển Thành, là thành Cổ Loa trước đây). Tuy nhiên, sức mạnh của Âu Lạc vẫn thật đáng sợ đối với triều đình nhà Hán. Nhà Hán vẫn chưa áp dụng được luật của nhà Hán cho người dân Âu Lạc. Sau này phải quay trở lại lấy luật tục của người Việt mà trị.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nhân dân vẫn cố gắng giữ gìn truyền thống văn hoá, tiếng nói của dân tộc trước những thay đổi lớn trong xã hội. Trứơc hết là thành phần dân cư lúc bấy giờ đã không còn thuần nhất. Những cuộc nhập cư của người Hán, những cuộc buôn bán, truyền đạo đã làm cho thành phần và số lượng dân cư Âu Lạc biến động đột ngột. Ngoài hai thành phần cư dân Việt – Hán, lúc bấy giờ còn có người Ấn Độ, Ba Tư, Trung Á đến trú ngụ. Kế tiếp là tôn giáo, tín ngưỡng Đạo giáo, nho giáo đến từ phương Bắc, khá thịnh hành. Riêng đạo phật đến từ phương Nam, theo đường biển truyền vào trong giai đoạn trứơc đó, đã bắt đầu hoà nhập vào đời sống tín ngưỡng truyền thống. Trống đồng Đông Sơn bị Mã Viện phá huỷ khá nhiều, nhưng người dân vẫn cố gắng khôi phục lại nghề đúc trống và có sự biến đổi cả về nghệ thuật và kỹ thuật.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Người dân Âu Lạc với truyền thống cần cù, chịu khó đã cố gắng lao động, phát triển sản xuất và đạt được nhiều thành tựu trong giai đoạn này. Về nông nghiệp: diện tích canh tác được mở rộng, lúa hai vụ được trồng nhiều, chủng loại cây trồng tăng lên. Năng suất trong lao động nông nghiệp tăng. Đặc biệt sản lượng lúa gạo nhiều lên bội phần. Về thủ công nghiệp: xuất hiện thêm nghề mới: đó là nghề làm gạch ngói. Nghề gốm truyền thống cũng phát triển theo hướng tinh xảo hơn trứơc. Nghề làm mía đường rất nổi tiếng. Nhiều sản phẩm thủ công nổi tiếng xuất hiện như vải cát bá, khăn bông, lụa, đường phèn, đồ chạm khảm,…)</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sản vật Âu Lạc nhiều và nổi tiếng nhưng do bị các quan lại nhà Hán bóc lột nặng nề, cộng thêm sự áp bức cùng cực, nhiều cuộc đụng độ đã nổ ra trên khắp ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Khoảng năm 190-193, thủ lĩnh Khu Liên nổi lên đánh đuổi quan lại và quân lính ở Nhật Nam, lập nên nước Lâm Ấp, tiền thân của nước Chiêm Thành (Chămpa).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 203, nhà Hán đổi tên Giao Chỉ bộ (3 quận) thành Giao Châu. Tên Giao Châu được gọi từ đó.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 211, đất Giao Châu chuyển sang lệ thuộc nhà Ngô. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Quận Giao Chỉ, Cửu Chân vào thời Ngô luôn trong cục diện chính trị không ổn định. Phía Nam quân Lâm Ấp đánh phá. Còn phía Bắc thì bị triều đình nhà Ngô khống chế, đặt ra lệ thuế vô cùng hà khắc, từ đó khiến lòng dân căm phẫn, dẫn đến bùng nổ các cuộc khởi nghĩa. </span> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">* Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu (năm 248) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sang thế kỷ thứ 3, trên đất Âu Lạc bùng nổ cuộc khởi nghĩa lớn của Bà Triệu (năm 248), Cuộc khởi nghĩa này là đỉnh cao của phong trào nhân dân thế kỷ II – III trong thời điểm chính quyền đô hộ có lực lượng hùng mạnh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Hình ảnh Bà Triệu được phác hoạ trong nhân dân như một nữ tướng oai nghiêm, giúp dân cứu nước, “mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trận”. Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh, là người miền núi vùng Quang Yên, quận Cửu Chân. Nay tên núi vẫn giữ nguyên bên bờ sông Mã, Thanh Hoá. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Bà đã cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt, là người làm đến chức Hiệu Lệnh, chiêu nạp trai tráng, luyện tập võ nghệ, mưu đồ khởi nghĩa. Triệu Thị Trinh đem quân lên vùng núi Tùng (Triệu Sơn<span>  </span>- Thanh Hóa) lập căn cứ, hàng ngũ dân chúng kéo theo Bà Triệu rất đông, nơi đây địa thể hiểm yếu, là nơi gần biển dễ dàng đi từ Giao Chỉ vào Cửu Chân. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 248, cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Từ căn cứ Bồ Điền (Hậu Lộc – Thanh Hoá), Bà Triệu lãnh đạo nghĩa quân đánh phá các thành ấp của bọn quan lại nhà Ngô ở quận Cửu Chân, rồi từ đó đánh ra khắp Giao Châu. Bọn quan cai trị kẻ bị giết, người chạy trốn. Bà được gọi là “Nhụy Kiều tướng quân” hay “Lệ Hải Bà Vương”. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Hay tin, nhà Ngô cho đem 8.000 quân sang Giao Châu đàn áp. Theo truyền thuyết Bà Triệu đánh bại quân Ngô hơn 30 trận, đánh nhau trong 6 tháng, nghĩa quân mai một dần, Bà Triệu đem quân đến núi Tùng (Hậu Lộc, Thanh Hoá) và tuẫn tiết. Ngày 21 tháng 2 âm lịch hàng năm là ngày hội tưởng nhớ tinh thần kiên trinh bất khuất của Bà.<span>    </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cuộc khởi nghĩa đánh giặc Ngô của Bà Triệu cùng với nhiều phản kháng của dân chúng chống giặc Ngô tuy không thành, nhưng càng hun đúc thêm ý chí quyết giành lại giang sơn, cởi bỏ ách lệ thuộc phương Bắc của người dân Âu Lạc.</span> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">* Lý Bí dựng nghiệp Nam Đế, lập nước Vạn Xuân (544-602)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Từ năm 250 – 543 Giao Châu rơi vào tình trạng bất ổn, bị nhiều nước tranh giành, xâu xé. Trong gần 300 năm, Giao Châu lần lượt thuộc nước Tấn (năm 250-420), Tống (năm 420-478), Tề (năm 479-502), Lương (năm 502-543)</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đời sống người dân vô cùng cơ cực. Ở giai đoạn nhà Lương cai trị, thuế má rất nặng nề, có đến hàng trăm thứ thuế, dân nghèo thậm chí phải bán vợ, đợ con để đóng thuế. Song song đó là tình trạng nhà Lương phân biệt giữa hai tầng lớp sĩ tộc (quan lại người Hán mới được cử sang Giao Châu) và hàn môn (gốc người Hán nhưng đã di cư đến Giao Châu nhiều đời) trong việc bổ nhiệm các chức quan địa phương. Điều nó dẫn đến sự bất mãn trong lớp hàn môn, nảy sinh xu hướng liên kết ngày càng mạnh giữa họ với những hào trưởng người Việt chống bọn quan lại sĩ tộc. Lại thêm nạn tham quan ô lại, các nhà thế tộc giàu có, đại địa chủ hoành hành, bóc lột của cải, chiếm đoạt ruộng đất khiến cho dân chúng nổi lên chống đối khắp nơi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đầu năm 542, cuộc khởi nghĩa của Lý Bí, (còn gọi là Lý Bôn) đã nổ ra. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lý Bí quê Thái Bình, xuất thân là một hào trưởng địa phương, có tài văn võ, có lúc làm Giám quân ở Huyện Cửu Đức, thuộc Đức Châu (Nghệ An), nhưng do bất bình với bọn quan lại sở tại ức hiếp dân chúng, Lý Bí từ bỏ nhiệm sở, về lại quê nhà, tổ chức khởi nghĩa đánh đổ bọn quan lại nhà Lương. Lý Bí là người tài đức, được hào kiệt nhiều nơi hưởng ứng. Trong đó có Triệu Túc và Triệu Quang Phục, đã đem quân theo Lý Bí. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trước lực lượng hùng mạnh của nghĩa quân Lý Bí, thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư quá sợ hãi, vội chạy trốn về Việt Châu, rồi đến Quảng Châu. Tháng 1 năm 542 Lý Bí chiếm giữ được châu thành Long Biên. Ba tháng sau nhà Lương cho quân sang đánh Lý Bí, nhưng quân nhà Lương thất bại hoàn tòan. Quân của Lý Bí đã kiểm soát và làm chủ trên vùng lãnh thổ rộng lớn, phía Nam đến Đức Châu (Nghệ Tĩnh), phía Bắc đến Hợp Phố (Tây Nam Quảng Đông – Trung Quốc) </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Thất bại trận đầu, nhà Lương tiếp tục điều khiển binh mã sang đánh Lý Bí lần thứ hai vào mùa đông năm 542. Cuộc chiến diễn ra ở Hợp Phố, quân nhà Lương tổn thất nặng nề. Quân Lý Bí đại thắng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tháng 5 năm 543, Phạm Tu, một tướng giỏi của Lý Bí, lại phá luôn Lâm Ấp. Biên thùy phía Bắc và phía Nam trở nên yên ổn. Tòan lãnh thổ Âu Lạc xưa giờ đây đã thuộc quyền lực của tầng lớp Hào trưởng địa phương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Mùa Xuân tháng Giêng âm lịch (tháng 2 năm 544) Lý Bí chính thức lên ngôi Hòang đế, xưng là Việt Đế, còn gọi là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội ngày nay).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lý Bí ở ngôi được 5 năm (543 – 548) thì mất, trong 5 năm ấy, chỉ hơn 1 năm là tình hình nước Vạn Xuân tương đối ổn định (543 – 544). Khoảng thời gian còn lại, phải chống chọi cuộc đánh phá lần thứ 3 của nhà Lương.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 548, Lý Nam Đế mất. Sự nghiệp của Lý Nam Đế đã được Lý Thiên Bảo (anh của Lý Nam Đế) và Triệu Quang phục đứng ra gánh vác chống lại nhà Lương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tại Trung Quốc, năm 557, Trần Bá Tiên lật đổ nhà Lương, tự phong Hòang đế, dựng nên nhà Trần. Trong lúc tình hình phương Bắc rối loạn, Giao Châu bị bỏ ngỏ. Triệu Quang Phục dần chiếm lại lãnh thổ Giao Châu, giành quyền tự trị, xưng Vương (Triệu Việt Vương).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 555, Lý Thiên Bảo mất, một viên tướng cùng họ là Lý Phật Tử lên thay thế. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Từ năm 557 trở về sau Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử tranh giành quyền lực, hai bên giao tranh nhiều lần bất phân thắng bại, phải kết thông gia để giảng hoà. Đến 571, Lý Phật Tử bất ngờ đánh úp Triệu Quang Phục, thâu tóm tòan bộ quyền lực, rồi tự xưng là Nam Đế, để tỏ ý tưởng là kế nghiệp Vạn Xuân của Lý Bí trước đó. Sử cũ thường gọi là Hậu Lý Nam Đế. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 602, quân của Nam đế Lý Phật Tử thất bại trứơc quân nhà Tuỳ. Nước Vạn Xuân mất sau 60 năm độc lập. Sử thường gọi thời kỳ này là thời kỳ tiền Lý để phân biệt với nhà Lý về sau.<span>  </span></span> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">3/ Bắc thuộc lần thứ ba.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sau khi đánh chiếm được Giao Châu vào năm 602, 3 năm sau nhà Tuỳ đánh chiếm luôn Lâm Ấp (năm 605) và bắt đầu tổ chức lại việc cai trị.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 617, nhà Tùy bị lật đổ, nhà Đường thay thế, đất Giao Châu lại chịu dưới ách thống trị của nhà Đường. Tuy nhiên, thế lực nhà Đường chưa đủ mạnh, vùng đất Giao Châu bị áp dụng chế độ cai trị như một đô hộ phủ, có tên là <i>Giao Châu đô hộ phủ</i>, sau này đổi tên thành <i>An Nam đô hộ phủ, </i>có phạm vi lãnh thổ bao gồm miền Bắc Việt Nam, từ Bắc Bộ đến Đèo Ngang và một phần đất phía Nam Trung Quốc (Tỉnh Quảng Đông - Quảng Tây). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vào thời này, nông nghiệp đã phát triển khá toàn diện. Có lúa, có hoa màu, có cây ăn trái, cây thuốc, cây công nghiệp, chăn nuôi, đánh bắt thủy hải sản. Sản xuất hướng mạnh vào mục tiêu cung ứng cho xuất khẩu. Thủ công nghiệp ở Giao Châu có bứơc phát triển quan trọng. Giao Châu như trở thành một công trường thủ công lớn, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu của trung tâm mậu dịch quốc tế Quảng Châu. Nền thương mại quốc tế đã thâm nhập mạnh vào An Nam đô hộ phủ. Tàu thuyền buôn của các nước thường mang sản vật đến đây mua bán, trao đổi. Tiền tệ được lưu hành rộng rãi. Thương nghiệp có phần khởi sắc, song trên thực tế đều bị bọn quan lại địa phương và tầng lớp đại thương nhân ở Quảng Châu thao túng. Giao thông đường thuỷ lẫn đường bộ đều phát triển hơn những thế kỷ trước.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Bộ mặt văn hóa có nhiều biến đổi, mà nổi rõ nhất là sự phát triển thịnh đạt của đạo Phật và văn hóa Phật Giáo theo phái Đại thừa, bên cạnh đó Nho Giáo vẫn tiếp tục giữ vị trí độc tôn trong hệ thống chính quyền, vào thời nhà Đường, chế độ sĩ tộc đã bị xem nhẹ, chế độ khoa cử để tuyển chọn nhân tài được coi trọng. Nhờ vậy ở An Nam đô hộ phủ, cũng có người bản xứ có điều kiện thi cử thăng tiến. Tình<span>  </span>hình chiếm hữu đất công diễn ra trầm trọng làm thay đổi bộ mặt xã hội. Lớp quý tộc, hào trưởng tại chỗ tranh chiếm đất công, người lao động mất đất, phá sản phải làm tôi tớ, nông nô hoặc tá điền. Do đó đời sống của số đông người dân vẫn rất cùng cực.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong thời gian khỏang ba thế kỷ, Giao Châu lệ thuộc nhà Tùy - Đường, thì nhiều quốc gia láng giềng trở nên lớn mạnh. Vương triều Cailendra ở Nam Dương rất cường thịnh. Vua Chân Lạp là Jayavarman II (802 – 854) đã dựng nên vương quốc Ăngkor rộng lớn trên bán đảo Đông Dương vào đầu thế kỷ thứ IX cũng phát triển hùng mạnh. Phía Nam sông Gianh, nước Chiêm thành kế thừa di sản của Lâm Ấp vào đầu thế kỷ thứ IX cũng phát triển hùng mạnh. Ở phía Tây Bắc của Vân Nam (Trung Quốc), nước Nam Chiếu được thành lập, chống lại nhà Đường, tồn tại được hơn một thế kỷ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span> </span>An Nam đô hộ phủ, từ thế kỷ VII – VIII về sau liên tiếp là vùng đất tranh giành giữa các quốc gia nói trên với nhà Đường.<span>  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Về phía nội tình bên trong, dân chúng An Nam đô hộ phủ nhiều lần nổi dậy đánh phá châu huyện, chống sự hà khắc của chính quyền đô hộ. Trong đó, có những cuộc giành chiến thắng như các cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên – Đinh Kiến (687), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (766), Dương Thanh (819) … </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">* Cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Mai Thúc Loan, quê ở Mai Phụ, một làng chuyên làm muối ở ven biển, nay thuộc huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh). Ông theo họ mẹ, lên sinh sống với mẹ ở Ngọc Trừng, thuộc huyện An Đàm (Nghệ An). Nhà nghèo, ông phải làm thuê cho hào trưởng địa phương. Ông rất khoẻ mạnh, thông minh, da đen bóng, võ nghệ cao cường vang tiếng cả vùng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Dưới ách thống trị của nhà Đường, bọn quan lại ra sức vơ vét tơ lụa, lúa thóc, bắt dân ta cống nộp quả vải. Hàng năm phải đi phu, làm lao dịch cho chính quyền đô hộ từ 20 đến 50 ngày. Dân tình khổ sở. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 722, Mai Thúc Loan đã hô hào dân phu cùng nhau nổi lên phản kháng bọn quan lại đô hộ. Dân chúng trong vùng hưởng ứng. Nhiều nơi ở các châu Hoan, Diễn, Ái (Thanh Hóa, Nghệ An) đều theo về với Mai Thúc Loan. Thế lực quân khởi nghĩa ngày càng lớn mạnh, Mai Thúc Loan dựa vào thế hiểm trở của vùng Sa Nam (Nam Đàn), lập căn cứ để đánh quân đô hộ. Lấy núi Vệ làm trung tâm và đặt bản doanh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sau khi làm chủ cả vùng đất Hoan, Diễn, Ái, Mai Thúc Loan xưng đế, lấy thành Vạn An làm kinh đô. Sử thường gọi ông là vua Đen họ Mai (Mai Hắc Đế). Sau khi lên ngôi đế, Mai Thúc Loan còn mở rộng việc giao thiệp nhằm liên kết các nước Chămpa, Chân Lạp và cả Kim Lân (Myanmar ngày nay) để cùng tham gia đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tuy nhiên, thế lực nhà Đường lớn mạnh, vua Đường cử Dương Tư Húc sang An Nam đô hộ phủ đàn áp cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế. Tư Húc cùng Quang Sở Khách dẫn 10 vạn quân, tiến quân vào châu thổ Sông Hồng, bất ngờ đánh úp quân của Mai Hắc Đế. Mai Hắc Đế trở tay không kịp, đối phó cũng không được, buộc phải rút chạy vào rừng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế bị đàn áp dã man, song chí khí của ông vẫn được đời đời truyền tụng trong dân chúng châu Hoan. Ngày nay, tại di tích thành cổ Vạn An, còn thấy đền thờ ông dựng trên núi Vệ và trong thung lũng núi Hùng.<span>  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">* Cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng (766 - 791)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Phùng Hưng là Hào trưởng ở đất Đường Lâm bên bờ phải Sông Hồng, gần chân núi Tản Viên (Ba Vì – Sơn Tây). Dòng dõi nhà ông có uy tín lớn đối với dân chúng trong vùng. Phùng Hưng và người em trai là Phùng Hải có sức khỏe hơn người. Bấy giờ, An Nam đô hộ sứ trên vùng đất này là Chính Bình, rất hống hách ức hiếp dân chúng, bắt nạp tô thuế nặng nề, thu vét nhiều của cải, khiến dân tình cực khổ trăm bề. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nhân gặp lúc quân lính trong phủ thành bất mãn, chống lại bọn quan chức đô hộ, Phùng Hưng được dân chúng hưởng ứng, đã nổi lên làm chủ đất Đường Lâm, mở rộng thế lực khắp Châu Phong. Phùng Hưng tự xưng là Đô quân, Phùng Hải được phong là Đô bảo, cùng nhau trấn giữ cả địa bàn Trung Du miền Núi Bắc Bộ. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Mấy năm sau, thấy quân lực đã đủ mạnh, Phùng Hưng tiến về xuôi, đánh phá phủ thành Tống Bình. Phùng Hưng nhanh chóng chiếm được phủ thành, kiểm soát tòan bộ Giao Châu. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Phùng Hưng nắm giữ quyền hành được 7 năm rồi mất. Con của Phùng Hưng là Phùng An nối nghiệp cha, dâng tôn hiệu cho cha là Bố Cái Đại Vương. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cuối năm 791, nhà Đường đem quân tấn công. Nhắm tình thế không thắng nổi, Phùng An dẫn thuộc hạ cùng ra hàng. Đến đây sự nghiệp tự chủ kéo dài gần 10 năm của anh em nhà họ Phùng tan vỡ. Nhà Đường kiểm soát lại Giao Châu.</span> </p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b style=""><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Kết luận:</span></u></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Hơn một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, nhân dân ta không lúc nào chịu cam phận mà luôn đấu tranh, chống lại áp bức, đô hộ. Ý chí tự lực, tự cường giành độc lập dân tộc chưa lúc nào nguôi ngoai thể hiện ở những cuộc nổi dậy và xưng vương, xưng đế (Trưng Vương, Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế…). Chính các cuộc nổi dậy đó đã chuẩn bị tiền đề vật chất và tinh thần cho công cuộc giành quyền tự chủ hoàn toàn vào đầu thế kỷ thứ X. Năm 906, Khúc Thừa Dụ, nhân chính quyền nhà Đường suy yếu, đã đứng lên cùng nhân dân giành được quyền tự chủ. Năm 938, chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền đã đánh bại ý chí xâm lược của nhà Nam Hán, kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nứơc, kéo dài trên một ngàn năm.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sở dĩ một quốc gia bị nứơc ngoài thống trị và âm mưu đồng hoá trên một ngàn năm đã vùng lên và giành lại được quyền tự chủ đó là nhờ có ý chí độc lập tự chủ của cư dân người Việt. Truyền thống đó thấm sâu trong nhân dân như mạch nước ngầm trong lòng đất, nó bắt nguồn từ mỗi con người, từ mỗi làng xóm, lặng lẽ đổ vào biển cả tạo thành truyền thống của cộng đồng người Việt. Truyền thống lại được nuôi dưỡng bởi nền văn hoá, văn minh của người Việt định hình và phát triển từ thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc. Trong sự cọ sát với nền văn hoá Hán, nền văn hoá Đông Sơn chẳng những không bị mai một mà lại được bổ sung bởi biết tiếp thu cái hay, cái tiến bộ, hợp lý của nền văn hoá bên ngoài nhằm tăng sức mạnh, hun đúc sức sống mãnh liệt của cộng đồng người Việt. Đây là điều kiện hết sức quan trọng để đất nứơc vươn lên giữ vững nền tự chủ, dựng nứơc thịnh trị trong thời kỳ sau này.</span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8 </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">------------------------------------------------------------ </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><i style=""><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài tiệu tham khảo: </span></u></i><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lịch Sử Việt Nam (tập 2) của Hội Đồng khoa học xã hội TP. Hồ Chí Minh - Viện khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh - Nhà xuất bản trẻ. Xuất bản năm 2007.</span></i></p>
<p> </p>
</div>
</div>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Giai đoạn từ thời dựng nước đến Bắc thuộc</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 2:30 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 345.416</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Giai đoạn từ thời dựng nước đến Bắc thuộc</category>
      <pubDate>Thu, 20 Oct 2011 08:10:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=60</guid>
    </item>
    <item>
      <title>III. NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=71</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA3134F28B8A443FE91CD17B47DF19AA8><div class=ExternalClass4C6C2EA6DA754A3089F3F02A0D9D2A55>
<div class=ExternalClassC167F74339F344D191523F6838994F3D>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            Nói đến những thành tựu nổi bật trong 175 năm trị vì đất nước của Triều Trần phải kể đến 3 lần chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược. Đồng thời tiếp nối những thành tựu của triều Lý trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, pháp luật … nhà Trần đã phát triển hơn nữa trên các lĩnh vực này và để lại dấu ấn sâu sắc.     </span></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span class=postbody><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            1. Về giáo dục </span></b></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Sau khi thành lập không lâu, </span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Nhà Trần" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n"><span style="color:#0000ff">nhà Trần</span></a><span style="color:#0000ff"> bắt đầu thực hiện chế độ khoa cử để chọn người tài giúp nước. Lúc đầu chỉ có những người trong hoàng tộc mới được giữ các chức quan cấp triều đình nhưng từ đời vua Trần </span><a title="Trần Anh Tông" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Anh_T%C3%B4ng"><span style="color:#0000ff">Anh Tông</span></a></span><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">, những người tài đức cũng được tuyển dụng vào giữ các chức vụ quan trọng này. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            + Năm 1232, </span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Nhà Trần" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n"><span style="color:#0000ff">nhà Trần</span></a><span style="color:#0000ff"> mở khoa thi đầu tiên, đặt ra học vị Thái học sinh.  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            + Năm 1247, triều đình đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 người đỗ đầu là </span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Trạng nguyên" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A1ng_nguy%C3%AAn"><span style="color:#0000ff">trạng nguyên</span></a><span style="color:#0000ff">, </span><a title="Bảng nhãn" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A3ng_nh%C3%A3n"><span style="color:#0000ff">bảng nhãn</span></a><span style="color:#0000ff">, </span><a title="Thám hoa" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1m_hoa"><span style="color:#0000ff">thám hoa</span></a><span style="color:#0000ff"> và quy định cứ 7 năm mở 1 khoa thi. Sau đó triều đình mở kỳ </span><a title="Thi Đình" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Thi_%C4%90%C3%ACnh"><span style="color:#0000ff">thi Đình</span></a><span style="color:#0000ff"> để phân hạng cao thấp cho </span><a title="Thái học sinh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_h%E1%BB%8Dc_sinh"><span style="color:#0000ff">thái học sinh</span></a></span><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            + Năm 1305, Nhà Trần đặt thêm học vị Hoàng Giáp.  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">+ Năm 1396, </span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Trần Thuận Tông" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Thu%E1%BA%ADn_T%C3%B4ng"><span style="color:#0000ff">Trần Thuận Tông</span></a><span style="color:#0000ff"> ban chiếu quy định cách thức </span><a title="Thi Hương" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Thi_H%C6%B0%C6%A1ng"><span style="color:#0000ff">thi Hương</span></a></span><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> và coi đó là một trong hai khoa thi chính thức của thi cử Nho học. Người đỗ ở trường Hương được cấp bằng Hương cống hay Cống sĩ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            Lần đầu tiên, Nhà nước thành lập Quốc sử viện chuyên lo việc biên soạn lịch sử nước nhà. Sự kiện quan trọng nhất của sử học đời Trần là việc Bảng nhãn Lê Văn Hưu biên soạn bộ <b><i>“Đại Việt sử ký”</i></b> gồm 30 quyển, hoàn tất vào năm 1272. Đây là bộ sử đầu tiên của dân tộc ta.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            2. Về pháp luật</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            Kế thừa bộ luật Hình thư của triều Lý, đồng thời nghiên cứu pháp luật của Trung Hoa, Triều Trần đã xây dựng nền luật pháp riêng cho mình. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            Năm 1230 Trần Thái Tông cho ban hành <i>“Quốc triều thông chế”</i>, sau đó qua vài lần bổ sung lại cho ban hành <i>“<b>Quốc triều hình luật” (hay còn gọi là Hình Thư thời Trần)</b> </i>bộ luật này do Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên soạn. Cơ quan pháp luật của triều Trần được tăng cường và hoàn thiện hơn.</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            <b>3. Về Văn hóa – nghệ thuật – kiến trúc. </b></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            <b><i>“Hịch Tướng sỹ”</i></b> được Trần Quốc Tuấn viết năm 1284, ngoài ý nghĩa của một áng văn chính luận, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước, còn có ý nghĩa to lớn về tư liệu lịch sử. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            <b><i>Văn học chữ Nôm</i></b> xuất hiện và bắt đầu có những đóng góp cho văn học nước ta, những cây bút nổi bật trong thời Trần như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trung Ngạn … </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span class=postbody><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            Triều Trần, Phật giáo đã chi phối mạnh mẽ xã hội lúc bấy giờ. Chùa chiền được dựng lên khắp nơi, số người xuất gia tu hành rất đông, trong đó có nhiều người là hoàng tộc, kể cả Vua và Thái thượng hoàng. Vua Trần Nhân Tông là người đã lập ra <b><i>phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. </i></b></span></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><span class=postbody><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            </span></b></span><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">4. Về khoa học, kỹ thuật, quân sự. </span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            4.1. Khoa học quân sự </span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">            Thời Trần nổi bật với những thành tựu về khoa học quân sự mà đứng đầu là Trần Hưng Đạo Vương với <b><i>“Binh thư yếu lược”,</i> </b>để lại cho đời sau một bài học vô giá về kinh nghiệm chống xâm lăng, đập tan những đội quân ăn cướp tàn bạo và thiện chiến, bên cạnh tinh thần chiến đấu và trình độ võ nghệ cũng như thiết bị kỹ thuật, tướng sỹ còn phải được trang bị những tri thức về binh pháp.    </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Trong chiến tranh, nhà Trần có thể tập hợp lực lượng đông đảo như vậy là do thực hiện chế độ <b><i>“Ngụ binh ư nông”</i></b><i> </i>có thể xem đây là sự kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và tổ chức vũ trang của thời đại đó. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">4.2. Khoa học y học</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Do nhu cầu của cuộc chiến tranh vệ quốc, y học có điều kiện phát triển rất mạnh. Trong triều đình cơ quan Thái y viện hoạt động rất hiệu quả. Y học nước ta lúc này trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu của nền y học khác, nhất là của Trung Hoa. Lúc này có những nhà y học nổi tiếng như Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh), Phạm Bân. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">4.3. Khoa học Thiên văn và lịch pháp</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Đặng Lộ là người đã chế tạo ra một dụng cụ để quan sát thiên văn và khảo sát khí tượng, gọi là <b><i>“Lung linh nghi”</i></b><i> </i>. Tuy nhiên nhà thiên văn và lịch pháp lớn nhất giai đoạn này vẫn là Đại tư đồ Trần Nguyên Đán (ông ngoại của Nguyễn Trãi). Trần Nguyên Đán là tác giả của <b><i>“Bách thế thông khảo”</i></b> (tác phẩm khảo cứu về lịch pháp nước ta từ các thế kỷ trước công nguyên đến đầu thế kỷ XV). </span></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8.</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> </span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="color:#0000ff"><b><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo: </span></u></i></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- <i>Lịch sử Việt Nam tập 3, tác giả Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh ,NXB Trẻ, năm 2007.</i></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Tiến trình Lịch sử Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục,  năm 2009. </span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Thuần ,NXB Giáo dục, năm 2010. </span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam, tác giả Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB Văn hóa – thông tin, năm 2008. </span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3, Tác giả Nhóm Nhân văn trẻ,  NXB Trẻ, năm 2008.</span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010.</span></i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- Các nhân vật lịch sử của NXB Giáo dục. </span></i></span></p>
<p><span style="color:#0000ff"> </span></p>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> TRIỀU TRẦN (1225 - 1400)</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 19/10/2011 2:45 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 42.175</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>TRIỀU TRẦN (1225 - 1400)</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 02:26:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=71</guid>
    </item>
    <item>
      <title>III. NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT TRONG GIAI ĐOẠN TRIỀU LÝ</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=66</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7C1660536A054EB5B01AB74604F2AD29><div class=ExternalClass29230DD75DBB4E56A29304CCC15D71F5>
<div class=ExternalClassBD07C534BBC7456BBFA1F975674D5223>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">            Trong giai đoạn Triều Lý, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội có nhiều bước phát triển, trong đó phải kể đến những thành tựu nổi bật sau: </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>1. <b>Về giáo dục: </b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1070, Vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu, ban đầu đây là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công và các bậc hiền tài và cũng là nơi học tập của các Hoàng Thái tử, mục đích khuyến khích nhân dân trong nước chăm chỉ học hành.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1076 Vua Lý Nhân Tông tiếp tục cho xây Quốc Tử Giám ngay giữa kinh thành, từ đây nền giáo dục đại học nước ta được khai sinh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Chế độ khoa cử ở Đại Việt đã có từ thời nhà Lý. Năm 1075 nhà Lý mở khoa thi Minh kinh bác sĩ Nho học đầu tiên, để tuyển chọn người tài giỏi ra làm quan. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Năm 1195, nhà Lý mở khoa thi Tam giáo (Nho, Phật, Đạo), loại thi này còn tồn tại đến đầu thời Trần.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>2. Về Luật pháp:</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span><b><i>Bộ Luật Hình thư được xem là bộ luật đầu tiên của nước ta</i></b>, được ban hành vào năm 1042, dưới triều Vua Lý Thái Tông. Nhìn chung Hình thư và các luật lệnh khác ở triều Lý<span>  </span>ra đời là bước tiến trong tổ chức quản lý nhà nước thời Lý. Tuy nhiên hiệu lực của nó cũng còn nhiều hạn chế. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>3. Văn hóa – nghệ thuật – kiến trúc:</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Thế kỷ đầu tiên của thời Lý đã để lại trong di sản dân tộc 3 áng thơ văn cô đúc mà gây được một ấn tượng phi thường, đó là tờ <b><i>Chiếu dời đô</i></b>, bài văn <b><i>Lộ Bố</i></b><i> </i>và bài thơ <b><i>Nam Quốc Sơn Hà</i>.</b> <span> </span><span> </span><span> </span><span> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span><b><i>Nghệ thuật múa rối nước</i></b> cũng bắt đầu xuất hiện ở thời Lý, được phục vụ trong các dịp lễ hội của cung đình.<span>  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Nhiều công trình kiến trúc như Đình, Chùa nổi tiếng được xây dựng còn tồn tại đến ngày nay và được công nhận di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng như Đình Đình Bảng (Bắc Ninh – là đình lớn nhất và đẹp nhất nước), chùa Một Cột, chùa Thầy, chùa Phật Tích. Đặc biệt Hoàng thành Thăng Long là điểm nhấn nổi bật nhất không chỉ về nghệ thuật kiến trúc mà còn mang giá trị về chính trị sâu sắc. <b><span>                      </span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>4. Tiền tệ</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span>            </span>Thời Lý đã xuất hiện việc trao đổi bằng tiền trong nội thương và ngoại thương, tiền tệ đã có vai trò quan trọng trong xã hội. </span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo: </span></u></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- <i>Lịch sử Việt Nam tập 3, tác giả Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh ,NXB Trẻ, năm 2007.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tiến trình Lịch sử Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục, <span> </span>năm 2009. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Thuần ,NXB Giáo dục, năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam, tác giả Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB Văn hóa – thông tin, năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3, Tác giả Nhóm Nhân văn trẻ, <span> </span>NXB Trẻ, năm 2008.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Các nhân vật lịch sử của NXB Giáo dục. </span></i></p>
<p> </p>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> TRIỀU LÝ (1009 - 1225)</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 3:50 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 38.175</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>TRIỀU LÝ (1009 - 1225)</category>
      <pubDate>Thu, 20 Oct 2011 09:53:59 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=66</guid>
    </item>
    <item>
      <title>III. CUỘC KHỞI NGHĨA LAM SƠN CỦA LÊ LỢI (1418 - 1427)</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=78</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassEB029A75F1BA4F4CA5A62FB41B4B7A29><p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">            </span>Khởi nghĩa Lam Sơn</span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập tự chủ cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt cùng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An,.. và các tướng văn, võ chính thức phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi dân Đại Việt đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">            </span>Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn: giai đoạn hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá (1418-1425), tiến công ra Bắc (1425-1427) và chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang (1427). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">            </span><b style="">1. Thời kỳ hoạt động ở vùng núi Thanh Hóa (1418 - 1425) </b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">            </span>Là giai đoạn khó khăn nhất của cuộc khởi nghĩa. Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ khoảng 2000 người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài trận nhỏ. Bị quân Minh vây đánh nhiều trận, quân Lam Sơn ba lần phải rút chạy lên núi Chí Linh. Trước tình thế hiểm nghèo, năm 1422, Lê Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh. Đến năm 1423, khi lực lượng được củng cố, lại thấy quân Minh bắt giữ sứ giả, Lê Lợi liền tuyệt giao cắt đứt giảng hoà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>Theo kế của Nguyễn Chích, năm 1424 Lê Lợi quyết định đưa quân vào đồng bằng Nghệ An. Tiến vào Nghệ An là một bước ngoặt về chiến thuật trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Cuối năm 1425, nghĩa quân Lê Lợi nhanh chóng đánh bại quân Minh, Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào Tân Bình – Thuận Hóa (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>2. Tiến công ra Bắc (1425 – 1427)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>Tháng 9 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh Bắc tiến ra đánh Đông Quan. Nghĩa quân tăng cường uy hiếp, vây hãm thành Đông Quan, quân Minh chủ trương cố thủ trong thành chờ cứu viện.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>Tháng 10, năm 1426, địch đã cho rút đại bộ phận quân sĩ ở Nghệ An tăng cường cho Đông Quan. Tại Vân Nam, Mộc Thạnh cũng được lệnh tuyển mộ 15 ngàn bộ binh và 3 ngàn cung thủ chuẩn bị sẵn sàng. Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện, hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ ra chặn đánh nghĩa quân Lam Sơn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động (các địa danh này ngày nay đều thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội). Nhân biết Vương Thông định chia đường đánh úp Lê Triện, hai tướng bèn tương kế tựu kế dụ Vương Thông vào ổ mai phục Tốt Động. Quân Vương Thông thua to, Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Vương Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>Lê Lợi được tin thắng trận liền sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chia hai đường thủy bộ tiến ra Đông Quan, bao vây thành.<span class=mw-headline></span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span class=mw-headline><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">            </span>3. Chiến thắng Chi Lăng-Xương Giang (1427).</span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span class=mw-headline><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span></span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông, sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây, Mộc Thạnh mang 5 vạn quân từ Vân Nam kéo sang. Đây là hai tướng đã từng sang đánh Đại Việt thời nhà Hồ và nhà Hậu Trần. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>Nghe tin có viện binh, nhiều tướng muốn đánh để hạ gấp thành Đông Quan. Tuy nhiên, theo ý kiến của Nguyễn Trãi, Lê Lợi cho rằng đánh thành lạ hạ sách vì quân trong thành đông, chưa thể lấy ngay được, nếu bị viện binh đánh kẹp vào thì nguy do đó Lê Lợi quyết định điều quân lên chặn đánh viện binh trước để nản lòng địch ở Đông Quan. Biết cánh Liễu Thăng là quân chủ lực, ông sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Văn Linh, Đinh Liệt mang quân phục ở Chi Lăng, lại sai Lê Văn An, Nguyễn Lý mang quân tiếp ứng. Đối với cánh quân Mộc Thạnh, ông biết Mộc Thạnh là viên tướng lão luyện, sẽ ngồi chờ thắng bại của Liễu Thăng mới hành động nên hạ lệnh cho Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả cố thủ không đánh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>Tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu liên tục giả thua chạy về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày 18 tháng 9 âm lịch, Liễu Thăng đuổi đến Chi Lăng. Trần Lựu lại thua, Liễu Thăng đắc thắng mang 100 quân kị đi trước. Ngày 20 tháng 9, Liễu Thăng bị phục binh của Lê Sát, Trần Lựu tiêu diệt.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>Các tướng thừa dịp xông lên đánh địch, giết hơn 1 vạn quân, chém được Lương Minh, Lý Khánh tự vẫn. Tướng Minh còn lại Hoàng Phúc, Thôi Tụ cố kéo về thành Xương Giang thế thủ nhưng đến nơi mới biết thành đã bị quân Lam Sơn hạ, phải đóng quân ngoài đồng không. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đường vận lương, sai Phạm Vấn, Nguyễn Xí tiếp ứng cho Lê Sát cùng sáp đánh, giết 5 vạn quân Minh ở Xương Giang. Hoàng Phúc và hơn 3 vạn quân bị bắt.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">         </span>Mộc Thạnh nghe tin Liễu Thăng thua bèn rút chạy. Cuối năm 1427, Vương Thông xin hòa và rút quân khỏi đất nước ta, chiến tranh kết thúc. Ngày 29 tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi vua tức là Lê Thái Tổ, lập ra triều Hậu Lê, lấy Quốc hiệu là Đại Việt./.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b style=""><i style=""><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo: </span></u></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- <i>Lịch sử Việt Nam tập 3, tác giả Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh ,NXB Trẻ, năm 2007.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tiến trình Lịch sử Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục, <span style=""> </span>năm 2009. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Thuần ,NXB Giáo dục, năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam, tác giả Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB Văn hóa – thông tin, năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3, Tác giả Nhóm Nhân văn trẻ, <span style=""> </span>NXB Trẻ, năm 2008.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Các nhân vật lịch sử của NXB Giáo dục. </span></i></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> NHÀ MINH ĐÔ HỘ ĐẠI VIỆT (1407 - 1427)</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 9:20 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 103.845</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>NHÀ MINH ĐÔ HỘ ĐẠI VIỆT (1407 - 1427)</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 03:40:21 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=78</guid>
    </item>
    <item>
      <title>9 ĐỜI VUA TRIỀU ĐẠI NHÀ LÝ</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=79</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass280B1AC538B144F9AE4FB0DA0C45D9FA><div class=ExternalClass758B797A04AC4A878C3201B6E18AC1C4>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1. LÝ THÁI TỔ (1010 – 1028) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên húy là Lý Công Uẩn, sinh ngày 12 tháng 02 năm Giáp Tuất (974) là người châu Cổ Pháp (thuộc huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh ngày nay). <b style=""></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Thời Lê Ngọa Triều, Lý Công Uẩn giữ chức Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, sau đó được thăng đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Bởi chức này, sử cũ thường gọi vua là Thân vệ. Năm Kỷ Dậu (1009), Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần (đại diện là Đào Cam Mộc) và các nhà sư (đại diện là Sư Vạn Hạnh) tôn lên ngôi vua. Vua lên ngôi tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009) nhưng bắt đầu đặt niên hiệu riêng từ năm 1010 nên sử vẫn thường tính năm đầu đời Lý Thái Tổ là năm 1010. Tháng 7 năm 1010 vua quyết định dời đô về Thăng Long. Vua ở ngôi 18 năm, mất ngày 03 tháng 3 năm Mậu Thìn (1028), thọ 54 tuổi. Trong 18 năm làm vua, ông chỉ dùng một niên hiệu duy nhất là Thuận Thiên. <b style=""></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2. LÝ THÁI TÔNG (1028 – 1054) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên húy là Lý Phật Mã hay Lý Đức Chính, con trưởng của Lý Thái Tổ, mẹ đẻ là Lê Thái Hậu. Vua sinh ngày 26 tháng 6 năm Canh Tí (1000) tại Hoa Lư. Tháng 4 năm Nhâm Tý (1012), ông được lập Thái tử và lên ngôi Vua vào ngày 04 tháng 3 năm Mậu Thìn (1028), ở ngôi 26 năm, mất ngày 1 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1054), thọ 54 tuổi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua Lý Thái Tông là vị vua anh minh và có nhiều đóng góp trong triều đại nhà Lý. Chính ông thân chinh đem quân đi dẹp cuộc nổi dậy của Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao; năm 1044 sau cuộc chiến tranh với Chiêm Thành vua cho đại xá miễn một nữa tiền thuế để khoan sức dân; năm 1049 cho xây chùa Diên Hựu (Chùa Một cột); Năm 1042 vua cho ban hành Bộ Luật Hình thư là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta. <span style=""> </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong thời gian ở ngôi, ông có 6 lần đặt niên hiệu, đó là: Thiên Thành (1028-1034), Thông Thụy (1034-1039), Càn Phù Hữu Đạo (1039-1042), Minh Đạo (1042-1044), Thiên Cảm Thánh Vũ (1044-1049), Sùng Hưng Đại Bảo (1049-1054). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">3. LÝ THÁNH TÔNG (1054-1072) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên húy là Nhật Tôn. Các bộ chính sử đều chép vua là con trưởng của vua Lý Thái Tông, mẹ người họ Mai, tước Kim Thiên Thái hậu (duy chỉ có Đại Việt sử lược thì chép vua là con thứ ba, mẹ là Linh Cảm Thái hậu). Vua sinh ngày 25 tháng 2 năm Quý Hợi (1023) tại kinh thành Thăng Long. Ngày 6 tháng 5 năm Mậu Thìn (1028) ông được lập thành Thái tử và lên ngôi ngày 1 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1054), ông ở ngôi 18 năm, mất tháng 1 năm Nhâm Tí (1072), thọ 49 tuổi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua được xem là ông vua thương dân, gắn bó với nông dân, đồng ruộng, ông thường đi xem cấy, gặt hái. Năm 1070 vua cho mở trường lập Văn Miếu tại kinh đô Thăng Long. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong 18 năm ở ngôi, vua Lý Thánh Tông đã 5 lần đặt niên hiệu, đó là: Long Thụy Thái Bình (1054-1058), Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), Long Chương Thiên Tự (1066-1068), Thiên Huống Bảo Tượng (1068-1069), Thần Vũ (1069-1072).<span style="">  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">4. LÝ NHÂN TÔNG (1072-1127) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên húy là Càn Đức, con trưởng của Vua Lý Thánh Tông, mẹ đẻ là Linh Nhân Thái hậu (tức bà Ỷ Lan). Vua sinh ngày 25 tháng 1 năm Bính Ngọ (1066) tại kinh thành Thăng Long, lên ngôi tháng 1 năm Nhâm Tí (1072), ở ngôi 55 năm, mất ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi (1127), thọ 61 tuổi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong thời gian vua Lý Nhân Tông ở ngôi, nhà Tống có ý đồ xâm lược nước ta, vua và Thái úy Lý Thường Kiệt đã chủ động đánh đuổi quân Tống, và đã chiến thắng ở sông Như Nguyệt, đánh đuổi được quân Tống. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1076 vua cho mở trường Quốc Tử Giám ở kinh đô Thăng Long, cũng từ đây, nền giáo dục đại học của nước ta được khai sinh.<span style="">  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong 55 năm ở ngôi vua đã 8 lần đặt niên hiệu, đó là: Thái Ninh (1072-1076), Anh Vũ Chiêu Thắng<span style="">  </span>(1076-1084), Quảng Hựu (1085-1092), Hội Phong (1092-1100), Long Phù (Long Phù Nguyên Hóa) (1101-1109), Hội Tường Đại Khánh (1110 – 1119), Thiên Phù Duệ Vũ (1120-1126), Thiên Phù Khánh Thọ (1127). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">5. LÝ THẦN TÔNG (1127-1138)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên húy là Dương Hoán, con trưởng của em ruột vua Nhân Tông là Sùng Hiền Hầu, được Vua Trần Nhân Tông nhận làm con nuôi rồi sau truyền ngôi cho, mẹ đẻ là phu nhân họ Đỗ. Thần Tông là cháu ruột của Vua Nhân Tông. Vua sinh tháng 6 năm Bính Thân (1116), Năm Đinh Dậu (1117) thì được Nhân Tông nhận làm con nuôi. Khi vua Nhân Tông mất, ông được lên nối ngôi vào cuối tháng 12 năm Đinh Mùi (1127). Vua ở ngôi 10 năm, mất ngày 26 tháng 9 năm Mậu Ngọ (1138), thọ 22 tuổi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua Lý Thần Tông coi trọng việc phát triển nông nghiệp, thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, cho binh lính đổi phiên, cứ lần lượt 6 tháng một được về làm ruộng, do vậy nhân dân no đủ, an cư lạc nghiệp. Trong thời gian ở ngôi, vua Lý Thần Tông đã đặt hai niên hiệu: Thiên Thuận (1128-1132), Thiên Chương Bảo Tự (1133-1138). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">6. LÝ ANH TÔNG (1138-1175) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên Húy là Thiên Tộ, con trưởng của Lý Thần Tông, mẹ đẻ là Lê thái hậu. Vua sinh tháng 4 năm Bính Thìn (1136) và lên ngôi ngày 1 tháng 10 năm Mậu Ngọ (1138), ở ngôi 37 năm, mất vào tháng 7 năm Ất Mùi (1175), thọ 39 tuổi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong 37 năm ở ngôi, ông đã đặt 4 niên hiệu: Thiệu Minh (1138-1140), Đại Định (1140-1162), Chính Long Bảo Ứng (1163-1174), Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">7. LÝ CAO TÔNG (1175-1210)</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên húy là Long Trát hay Long cán, là con thứ 6 của Vua Anh Tông, mẹ đẻ là Thụy Châu Thái hậu, người họ Đỗ. Vua sinh ngày 25 tháng 5 năm Quý Tị (1173), lên ngôi tháng 7 năm Ất Mùi (1175), ở ngôi 35 năm, mất ngày 28 tháng 10 năm Canh Ngọ (1210), thọ 37 tuổi. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong thời gian ở ngôi, vua ăn chơi vô độ do vậy giặc cướp nổi lên nhiều nơi, dân đói kém liên miên, cơ nghiệp nhà Lý suy đồi từ đây dù đã có dấu hiệu từ thời vua Lý Anh Tông. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vua Lý Cao Tông có 4 lần đặt niên hiệu: Trinh Phù (1176-1186), Thiên Tư Gia Thụy (1186-1202), Thiên Gia Bảo Hựu (1202-1205), Trị Bình Long Ứng (1205-1210).<span style="">  </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">8. LÝ HUỆ TÔNG (1210-1224) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên húy là Hạo Sảm, con trưởng của Vua Cao Tông, mẹ đẻ là Đàm Thái Hậu. Vua sinh tháng 7 năm Giáp Dần (1194), được lập làm Thái tử vào tháng 1 năm Mậu Thìn (1208), lên ngôi cuối năm Canh Ngọ (1210), ở ngôi 14 năm. Năm Giáp Thân (1224), vua nhường ngôi cho con gái thứ là Lý Chiêu Hoàng rồi đi tu ở chùa Chân Giáo (trong thành Thăng Long, hiệu là Huệ Quang Thiền Sư). Mặc dù ông ở ngôi vua, nhưng mọi việc trong triều chính đều do Trần Thủ Độ điều hành.<span style="">  </span>Huệ Tông sau bị nhà Trần bức tử vào tháng 8 năm Bính Tuất (1226), thọ 32 tuổi. Trong 14 năm trị vì, vua chỉ đặt một niên hiệu là Kiến Gia (1211-1224). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">9. LÝ CHIÊU HOÀNG (1224-1225) </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên húy là Phật Kim, lại có tên húy khác là Lý Thiên Hinh Nữ, được vua cha là Lý Huệ Tông phong làm Chiêu Thánh công chúa, là con thứ hai của vua Trần Huệ Tông, mẹ đẻ là Thuận Trinh thái hậu Trần Thị Dung. Bà sinh tháng 9 năm Mậu Dần (1218). Tháng 10 năm Giáp Thân (1224) được vua cha truyền ngôi. Đến tháng 12 năm Ất Dậu (1225) dưới sự đạo diễn của Trần Thủ độ, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (là cháu gọi Trần Thủ Độ bằng chú, sau này là vua Trần Thánh Tông), từ đây bà là Chiêu Thánh hoàng hậu. Nhà Lý chấm dứt từ đó. Lý Chiêu Hoàng mất vào tháng 3 năm Mậu Dần (1278), thọ 60 tuổi. Niên hiệu trong thời gian bà ở ngôi là Thiên Chương Hữu Đạo. </span></p>
</div>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8 </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo</span></u></i></b><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">:</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Lịch sử Việt Nam tập 3 của Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại T.P HCM, NXB trẻ năm 2007. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần, NXBGD VN năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam của Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB văn hóa –thông tin năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3 của NXB Trẻ năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010, các nhân vật lịch sử của NXBGD.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Việt Nam anh Kiệt – Đặng Duy Phúc – NXB VHTT – 2010.</span></i></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 10:50 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 354.885</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 03:54:42 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=79</guid>
    </item>
    <item>
      <title>III. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=75</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7B2CC4964F754E5981F24BB97CC52FA6><div class=ExternalClass545C719C8DAC4112BEE3DB0D4F8589C1>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">            Nhà Minh có ý đồ xâm lược Đại Việt từ lâu. Việc Hồ Quý Ly chiếm đoạt ngôi vua của nhà Trần là một cái cớ để nhà Minh tiến hành ý đồ đó. Tháng 4 năm Bính Tuất (1406), nhà Minh sai Hoàng Quan và Hoàng Trung đem 10 vạn quân ở Quảng Tây sang, mượn cớ đưa con cháu nhà Trần là Trần Thiêm Bình về làm vua. Qua một số trận giao tranh nhỏ, Nhà Hồ thắng trận, quân Minh phải giao nộp Trần Thiêm Bình mới được rút lui.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cuối năm 1406, quân Minh vượt Lạng Sơn đánh về Thăng Long. Đầu năm 1407 chúng vượt sông Hồng đánh vào thành Đa Bang. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Ngày 20/1/1407, thành Đa Bang thất thủ, tuyến phòng ngự của ta bị phá vỡ, giặc tràn vào Thăng Long, cướp bóc của cải, phá hoại cung điện, nhà cửa. Sau đó quân Minh rút về Hàm Tử (Hưng Yên). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Về phía nhà Hồ, dù có sự chuẩn bị về mặt quân sự trước đó, nhưng do quân giặc đông, thế mạnh, đồng thời lúc này nhà Hồ không được lòng dân nên không đoàn kết được sức mạnh tổng thể của dân tộc, vì vậy Tướng Hồ Nguyên Trừng, Hồ Đỗ, Hồ Xạ và một bộ phận nhân dân dù đã chiến đấu rất anh dũng, quyết liệt nhưng cuối cùng cũng thất thủ ở Hàm Tử. Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương dẫn các tướng và quan lại vượt biển trở về Tây Đô (Thanh Hóa). </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tháng 5/1407, quân Minh tấn công Tây Đô. Hồ Quý Ly cùng quần thần chạy vào Nghệ An. Cuối cùng, quân Minh bắt được vua quan nhà Hồ ở cửa biển Kỳ La, Cao Vọng (huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh). Như vậy cuối tháng 6/1407, cuộc kháng chiến của quân nhà Hồ hoàn toàn thất bại, đất nước rơi vào ách đô hộ của nhà Minh. </span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo: </span></u></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- <i>Lịch sử Việt Nam tập 3, tác giả Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh ,NXB Trẻ, năm 2007.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tiến trình Lịch sử Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục, <span> </span>năm 2009. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Thuần ,NXB Giáo dục, năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam, tác giả Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB Văn hóa – thông tin, năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3, Tác giả Nhóm Nhân văn trẻ, <span> </span>NXB Trẻ, năm 2008.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Các nhân vật lịch sử của NXB Giáo dục. </span></i></p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> TRIỀU HỒ (1400 - 1407)</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 9:20 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 16.756</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>TRIỀU HỒ (1400 - 1407)</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 02:36:29 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=75</guid>
    </item>
    <item>
      <title>12. KHÚC THỪA DỤ</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=98</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass01D972BEEDF54442BC690E5587762D69><p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Khúc Thừa Dụ có tính khoan hòa, thương người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ. Khúc Thừa Dụ có mưu lược rất khôn khéo, một mặt tự xưng là Tiết độ sứ Tĩnh Hải, xây dựng chính quyền tự chủ, mặt khác chủ động xin mệnh với nhà đường để nhà Đường không có cớ đàn áp. Đồng thời để cho danh chính ngôn thuận đối với các thế lực phiên trấn bên ngoài và cả với các hào trưởng bên trong. Trước sự việc đã rồi, lại trong tình thế quốc sự rối ren, vua Đường đành phải chấp nhận lời thỉnh cầu của Khúc Thừa Dụ. Trên thực tế cũng như trên danh nghĩa, Khúc Thừa Dụ nắm toàn quyền kiểm soát trấn Tĩnh Hải, thiết lập một chính quyền tự chủ thay cho chính quyền đô hộ của nhà Đường. </span></p>
<p><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;margin:6pt 0in"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">(Tài liệu tham khảo :<span style=""> Lịch sử Việt Nam, tập 3 của Hội Đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh – Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2007).</span></span></i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"> </p>
</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/10/2011 1:50 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 3.851</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 08:54:12 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=98</guid>
    </item>
    <item>
      <title>II. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=65</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassDBA67493C8884FE8A82BAD573FF303CB><p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1. Tổ chức hành chính và bộ máy quản lý.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1054, vua Lý Thánh Tông quyết định đổi tên nước là Đại Việt. Nước Đại Việt dưới thời Lý bao gồm Bắc bộ và Bắc Trung bộ ngày nay. Phía Bắc, biên giới gần với biên giới Việt – Trung sau này, phía Tây giáp với một số bộ lạc Ai Lao, phía Nam là vương quốc Chămpa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">So với các triều đại trước, bộ máy quản lý đất nước của nhà Lý có những bước tiến bộ hơn và hoàn chỉnh hơn. Chế độ nhà Lý là chế độ quân chủ tập quyền nhưng đây chưa phải là chế độ quân chủ quan liêu theo mô hình Nho giáo.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cấp hành chính Trung ương bao gồm 3 bộ phận chủ yếu, đó là:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:-0.25in;margin:0in 0in 0pt 1in;tab-stops:list 1.0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">1.<span style="font:7pt &quot;Times New Roman&quot;">       </span></span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Các cơ quan giúp việc cho hoàng đế: sảnh, hàn lâm viện</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:-0.25in;margin:0in 0in 0pt 1in;tab-stops:list 1.0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">2.<span style="font:7pt &quot;Times New Roman&quot;">       </span></span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Các cơ quan đầu não của triều đình: khu mật viện, bộ</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:-0.25in;margin:0in 0in 0pt 1in;tab-stops:list 1.0in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">3.<span style="font:7pt &quot;Times New Roman&quot;">       </span></span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Các cơ quan giúp việc cho triều đình: viện, ty, cuộc</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Các chức tướng công, thái phó được hoàng đế nhà Lý ban cho những người có nhiệm vụ trực tiếp điều khiển toàn bộ chính quyền. Phụ tá cho các thái phó là tả tham tri chính sự, hữu tham tri chính sự, và hành khiển. Phụ tá cho thái phó còn có các cơ quan là khu mật viện và bộ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Các cấp hành chính ở địa phương lần lượt từ cao xuống thấp là:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:-0.25in;margin:0in 0in 0pt 1in;tab-stops:list 1.0in"><span style="line-height:150%;color:blue;font-size:10pt"><span style=""><font face="Times New Roman">-<span style="font:7pt &quot;Times New Roman&quot;">          </span></font></span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Phủ, lộ, châu, trại</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:-0.25in;margin:0in 0in 0pt 1in;tab-stops:list 1.0in"><span style="line-height:150%;color:blue;font-size:10pt"><span style=""><font face="Times New Roman">-<span style="font:7pt &quot;Times New Roman&quot;">          </span></font></span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Huyện, hương, giáp, phường, sách, động</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đứng đầu bộ máy hành chính của các phủ, lộ là tri phủ, phán phủ, của các châu là tri châu, của các trại, đạo là quan mục. Đứng đầu bộ máy hành chính của các huyện là huyện lệnh. Dưới huyện là đơn vị <span style="">giáp</span> và <span style="">thôn</span>.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt 0.5in"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2. Chế độ ruộng đất.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trên danh nghĩa ruộng đất trong cả nước thuộc về nhà vua. Nhưng trên thực tế, các hình thức sở hữu ruộng đất khá phức tạp, tuy nhiên có thể phân thành bốn loại sở hữu sau:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2.1. Sở hữu Nhà nước.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đây là bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu trực tiếp của nhà vua. Bộ phận này bao gồm các loại ruộng tịch điền, ruộng sơn lăng, đồn điền.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2.2 Ruộng đất công làng xã.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Ruộng đất công làng xã sẽ được phân phối định kỳ theo các tập tục của làng xã cho nông dân canh tác. Những người nông dân này sẽ nộp tô cho Nhà nước, và đây là nguồn thu nhập chủ yếu của chính quyền phong kiến đương thời.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2.3. Ruộng đất tư.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong triều đại nhà Lý đã tồn tại một bộ phận ruộng đất thuộc quyền tư hữu của một số cá nhân. Ruộng tư được quyền sang nhượng, thừa kế và mua bán không lệ thuộc vào chính quyền phong kiến.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2.4. Ruộng đất nhà chùa.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Thuộc quyền sở hữu của nhà chùa.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">            </span>3. Sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với Triều Lý. </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">            </span>Các chùa thời Lý có một thế lực kinh tế đáng kể trong cơ cấu kinh tế chung của cả nước. Các nhà chùa có một số lượng ruộng đất của cải đáng kể.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt .25in"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">            </span>Các vua nhà Lý có quan hệ chặt chẽ với các vị sư, nhất là những vị sư có cống hiến nhiều cho vương triều. Các vị sư như Vạn Hạnh, Đa Bảo đã có công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập vương triều Lý. Các vua nhà Lý trong buổi đầu đều trọng đãi các vị sư tăng, thường cho mời vào triều hỏi về các việc chính sự.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">            </span>Phật giáo cũng tác động nhiều đến nếp sống văn hóa dưới thời Lý, những sinh hoạt lễ hội của Phật giáo được phổ biến rộng rãi trong dân gian. Mỗi khi các chùa mở lễ hội hoặc các chùa mới làm lễ khánh thành không chỉ các Phật tử mà đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Các bộ sách kinh được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Có nhiều công trình nghiên cứu, phổ biến Phật học của các nhà sư uyên bác ở thời kỳ này.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:9.0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><span style="">            </span>Như vậy dưới triều Lý, Phật giáo đã có những bước phát triển, là một thời kỳ hoàng kim trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, tác động đến quá trình phát triển nhiều mặt kinh tế, xã hội của nước Đại Việt trong buổi đầu xây dựng quốc gia độc lập, tự chủ.</span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b style=""><i style=""><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo: </span></u></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- <i>Lịch sử Việt Nam tập 3, tác giả Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh ,NXB Trẻ, năm 2007.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tiến trình Lịch sử Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục, <span style=""> </span>năm 2009. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Thuần ,NXB Giáo dục, năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam, tác giả Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB Văn hóa – thông tin, năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3, Tác giả Nhóm Nhân văn trẻ, <span style=""> </span>NXB Trẻ, năm 2008.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Các nhân vật lịch sử của NXB Giáo dục. </span></i></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> TRIỀU LÝ (1009 - 1225)</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 3:55 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 11.394</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>TRIỀU LÝ (1009 - 1225)</category>
      <pubDate>Thu, 20 Oct 2011 09:42:21 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=65</guid>
    </item>
    <item>
      <title>CÁC QUAN THẦN NỔI TIẾNG TRONG TRIỀU ĐẠI NHÀ LÝ</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=80</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassEDB85F968DA1492AA80319C72AA7F7B5><div class=ExternalClass368E40F08E5145E19C9BCAF882D31E7D>
<div class=ExternalClass90BB51FF5CCC46DE92BAAF735AAD1FE6>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1. LÝ THƯỜNG KIỆT </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lý Thường Kiệt vốn tên là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, quê ở<span style="">  </span>làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, Gia Lâm, Hà Nội) con của ông Ngô An Ngữ. Ông sinh năm Kỷ Mùi (1019) mất năm Ất Dậu (1105 ) hưởng<span style="">  </span>thọ 86 tuổi.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Từng làm quan trải thờ đến ba đời Hoàng đế (gồm Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông). Ông liên tiếp được thăng chức bởi những chiến công nổi bật.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 20 tuổi, ông được làm chức quan nhỏ trong một đội kị binh. Khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi ông được rời khỏi những chức vụ trong nội cung và đưa ra giúp việc vua tại triều đình. Ông liên tục lập được nhiều chiến công trong các trận đánh với Chămpa và lập công lớn trong trận đánh quân Tống ở sông Như Nguyệt (năm 1077). Khi vua Lý Nhân Tông lên ngôi ông làm phụ quốc Thái úy. Vì những chiến công hiển hách, ông được vua Lý nhận làm con nuôi và đổi tên sang họ Lý là Lý Thường Kiệt.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trong quân s</span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">ự ông là bậc đại danh tướng</span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">, là linh hồn của những chiến công lớn nhất lịch sử nước nhà trong thế kỷ XI .Trong chính trị, ông là đấng đại danh thần, là chỗ dựa tin cậy và vững chắc của nhà Lý, nhất là dưới sự trị vì của Hoàng đế Lý Nhân Tông (1072-1127). Trong lịch sử văn học ông là cây đại bút tác giả của Nam Quốc sơn hà – áng hùng thi có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước nhà.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2<i>. </i></span></b><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">TÔ HIẾN THÀNH</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tô Hiến Thành tên húy là Phi Diên, người làng Hạ Mỗ, huyện Ô Diên nay là thôn Hạ Mỗ xã Hồng Thái, Đan Phượng, Hà Tây. Là người khẳng khái, trung trực và liêm khiết làm quan đến Thái phó rồi Thái úy đời vua Lý Anh Tông. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Ông lập nhiều chiến công trong việc trấn áp các cuộc nổi dậy của các tộc người ở Tây Nam và quân Chămpa xâm lấn. Ông được giao trách nhiệm đảm đương việc nước, rèn luyện quân sĩ, mọi việc nhất nhất được chấn chỉnh. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1175, vua Lý Anh Tông lập Long Cán làm Thái tử. Khi sắp mất vua Lý Anh Tông đã gọi riêng ông đến bên long sàng di huấn cho ông làm Thái sư phụ chính, căn dặn ông phải hết lòng phò tá Thái tử Cán ở ngôi vua. Vua Anh Tông mất, ông làm đúng di huấn của vua Anh Tông, dốc sức phò tá vua mới còn nhỏ tuổi. Vợ vua Anh Tông là Hoàng Thái hậu muốn bỏ Thái tử Cán mà lập Thái tử Long Xưởng là người vì hư đốn, đã bị truất quyền nối ngôi. Ông cương quyết không nghe, quyết làm theo di huấn của tiên đế. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1177, vua mới 3 tuổi lên ngôi, một mình ông phải lo mọi việc nghiêm chỉnh, công bằng, mọi người đều quy phục. Suốt thời kỳ làm quan trong triều, ông luôn giữ tính cương trực, trọng nghĩa khinh tài, một lòng trung thành vì dân, vì nước. Trước những xáo động dữ dội do bọn quí tộc phong kiến thối nát gây nên, ông vẫn vững như cột đá, mưu trí chống đỡ, giữ cho việc nước việc dân khỏi bị bọn gian thần lũng đoạn. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Khi ông lâm bệnh sắp mất có tham tri chính sự Võ Tán Đường sớm tối lo hầu hạ, còn quan Gián nghị đại phu là Trần Trung Tá vì bận việc nước không hề đến thăm, nhưng khi Thái hậu hỏi <i style="">“Ông mất thì ai sẽ nối nghiệp ông?”</i> ông trả lời không do dự <i style="">“Gián nghị đại phu Trần Trung Tá”</i>. Thái hậu ngạc nhiên nói rằng <span style=""> </span><i style="">“Võ Tán Đường hết lòng phục dịch tướng công sao tướng công không tiến cử lại đi tiến cử Trần Trung Tá là người ít ra vào thăm viếng tướng công?”. </i>Ông đáp “<i><span style="">Xem trong triều chỉ có Trần Trung Tá là người làm được việc lớn nên tôi tiến cử, nếu Thái hậu hỏi người giỏi việc hầu hạ tôi sẽ tiến cử Võ Tán Đường</span></i>”. Tháng<span style="">  </span>6 năm Kỷ Hợi (1179 ) Tô Hiến Thành qua đời.<i style=""></i></span></p>
</div>
</div>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8 </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><i><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo</span></u></i></b><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">:</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Lịch sử Việt Nam tập 3 của Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại T.P HCM, NXB trẻ năm 2007. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần, NXBGD VN năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam của Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB văn hóa –thông tin năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3 của NXB Trẻ năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010, các nhân vật lịch sử của NXBGD.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:36.85pt;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Việt Nam anh Kiệt – Đặng Duy Phúc – NXB VHTT – 2010.</span></i></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 10:45 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 19.324</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thế kỷ X đến XV</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 03:56:10 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=80</guid>
    </item>
    <item>
      <title>10. MAI THÚC LOAN</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=96</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassA8F2D29E0B9B4A748F319AFF0069AAA8><p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên : Mai Huyền Thanh.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Quê ở Mai Phụ (gò họ Mai), tên Nôm là Kẻ Mỏm, một làng chuyên làm muối ở ven biển phía Nam châu Hoan nay thuộc huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh). Ông theo họ mẹ, lên sinh sống với mẹ ở Ngọc Trừng thuộc huyện An Đàm (Nghệ An). Nhà nghèo, ông phải làm nghề rừng, đi kiếm củi, rồi làm gia nhân cày ruộng, chăn trâu cho hào trưởng địa phương. Ông rất khỏe và thông minh, nước da đen bóng, võ nghệ cao cường, tiếng vang cả vùng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Theo luật lệ nhà Đường, hàng năm dân chúng phải đi phu, làm lao dịch cho chính quyền đô hộ từ 20 đến 50 ngày. Lao dịch vất vả luôn năm, dân tình ta thán. Mai Thúc Loan cùng chung cảnh ngộ, đã hô hào dân phu cùng nổi lên phản kháng bọn quan lại đô hộ vào năm 722. Sau khi làm chủ cả vùng đất Hoan, Diễn, Ái, ông liền tự xưng đế, lấy thành Vạn An (Nghệ An) làm kinh đô. Sử thường<span style="">  </span>gọi ông là vua Đen họ Mai (Mai Hắc Đế). Sau khi lên ngôi, Mai Thúc Loan còn mở rộng việc giao thiệp nhằm liên kết các nước Champa, Chân Lập và cả Kim Lân (Myanmar ngày nay) để cùng tham gia công cuộc đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường (Trung Quốc). Được sự trợ giúp của các nước láng giềng, quân của Mai Hắc Đế tiến ra đồng bằng Bắc bộ đánh chiếm phủ thành, làm chủ toàn cõi An Nam đô hộ phủ (gồm miền Bắc từ Bắc Bộ đến đèo Ngang và một phần đất phía Nam Trung Quốc (tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây)).</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cuộc khởi nghĩa của Mai Hắc Đế có quy mô rộng lớn, thế lực khá mạnh, ảnh hưởng chấn động cả Lĩnh Nam. Ngày nay, tại di tích thành cổ Vạn An (Nghệ An) còn đền thờ ông dựng trên núi Vệ và trong thung lũng núi Hùng. Trong đền còn lưu giữ cuốn <i style=""><span style="letter-spacing:-0.1pt">Tiên Chân bảo huấn tân kinh </span></i><span style="letter-spacing:-0.1pt">có bài thơ tưởng nhớ uy đức của Mai Hắc Đế với nội dung :</span></span></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">“Hùng cứ Châu Hoan đất một vùng,</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vạn An thành lũy khói hương xông,</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Bốn phương Mai Đế lừng uy đức,</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trăm trận Lý – Đường phục võ công.</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Lam thủy trăng in, tăm ngạc lặn,</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Hùng sơn gió lặng, khói lang không.</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đường đi cống vải từ đây dứt,</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=center style="text-align:center;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Dân nước đời đời hưởng phúc chung”.</span></i></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;margin:6pt 0in"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">(Tài liệu tham khảo :<span style=""> Lịch sử Việt Nam, tập 3 của Hội Đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh – Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2007).</span></span></i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"></span></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/10/2011 2:05 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 6.037</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 08:37:00 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=96</guid>
    </item>
    <item>
      <title>II. NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=74</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassB8AD818746394C2989DB93BADDE0A1FA><p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1. Mở rộng lãnh thổ về phía Nam, tổ chức cho nhân dân đi khai khẩn, mở mang hệ thống giao thông, thủy lợi.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Năm 1402, nhằm loại bỏ nguy cơ xâm lấn của Chămpa ở phía Nam, Hồ Hán Thương đem quân do Đỗ Mãn làm Đô tướng tiến đánh Chămpa. Vua Chămpa là Ba Đích Lại hoảng sợ, cho cậu là Bố Điền sang dâng đất Chiêm Động (Quảng Nam ngày nay) để xin bãi binh. Hồ Quý Ly buộc phải nộp cả Cổ Lũy thì mới ưng thuận. Sứ Chămpa sợ phải nghe theo. Nhà Hồ lấy hai đất ấy lập lộ Thăng Hoa và cho dân vào đó khai khẩn, dời dân có tiền, có sức mà thiếu ruộng cày vào đó khẩn hoang lập nghiệp. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Hồ Hán Thương cho làm con đường thiên lý từ Thanh Hóa chạy đến Hóa Châu. Năm 1404, Hồ Hán Thương cho đào một con sông từ Tân Bình đến Thuận Hóa. Như thế đủ thấy tầm vĩ đại về sự khai khẩn quốc thổ của nhà Hồ.<span style="">           </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">3. Về Kinh tế – văn hóa - nghệ thuật – kỹ thuật quân sự. </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Ngoài việc mở rộng lãnh thổ, nhà Hồ đã thực hiện rất nhiều cải cách quan trọng và tiến bộ như năm 1396, Hồ Quý Lý cho <b style=""><i style="">phát hành tiền giấy, làm lại hộ tịch</i></b>. Quan trọng hơn là quân đội đã được phát triển rất mạnh vào thời kỳ này, và vị tướng lỗi lạc nhất của nhà Hồ chính là Hồ Nguyên Trừng đã <b style=""><i style="">chế tạo ra súng thần cơ</i></b>. Hồ Nguyên Trừng đã chế tạo được súng thần cơ với ba loại rất hiện đại: loại lớn đặt trên lưng voi, loại trung hai người khiêng, loại nhỏ vác vai, ông cũng chính là người lập nên phòng tuyến thành Đa Bang. Súng thần cơ của Nguyên Trừng có đầy đủ các bộ phận cơ bản của loại súng thần công ở những thế kỷ sau này. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Đặc biệt <b style=""><i style="">Thành Nhà Hồ</i></b> là một công trình kiến trúc lớn đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật xây dựng thành lũy của nước ta. Thành được xây vào năm 1397, ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Tháng 6 năm 2011 Thành Nhà Hồ được Unessco công nhận di sản Văn hóa Thế giới. </span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b style=""><i style=""><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo: </span></u></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- <i>Lịch sử Việt Nam tập 3, tác giả Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh ,NXB Trẻ, năm 2007.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tiến trình Lịch sử Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục, <span style=""> </span>năm 2009. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Thuần ,NXB Giáo dục, năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam, tác giả Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB Văn hóa – thông tin, năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3, Tác giả Nhóm Nhân văn trẻ, <span style=""> </span>NXB Trẻ, năm 2008.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Các nhân vật lịch sử của NXB Giáo dục. </span></i></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> TRIỀU HỒ (1400 - 1407)</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 9:25 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 11.493</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>TRIỀU HỒ (1400 - 1407)</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 02:33:05 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=74</guid>
    </item>
    <item>
      <title>9. LÝ NAM ĐẾ (503 - 548)</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=95</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass16E47F24E17743898C263E3FE5C9D934><div class=ExternalClass2D20A56D668243FA9D9EB08471D4CDB4>
<div class=ExternalClass4B646768D72F4233BF9DB805CD14A588>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Tên thật : Lý Bí (Lý Bôn),</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Xuất thân là một hào trưởng địa phương, ông có tài văn võ, có lúc làm Giám quân ở huyện Cửu đức thuộc Đức Châu (Nghệ An) nhưng do bất bình với bọn quan lại sở tại ức hiếp dân chúng, Ông từ bỏ nhiệm sở. Về lại quê nhà (huyện Thái Bình – vốn là đất cũ của huyện Mê Linh thời Tây Hán, nơi Hai Bà Trưng dấy nghĩa), Lý Bí mưu tính việc khởi nghĩa đánh đổ bọn quan lại nhà Lương (Trung Quốc).</span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Sau chiến thắng ở cả biên thùy phía Bắc và phía Nam chống nhà Lương, tháng 02 năm 544, Lý Bí chính thức lên ngôi Hoàng đế, xưng là Việt Đế còn gọi Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là </span></span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a><span style="color:#0000ff"><span style="text-decoration:none;text-underline:none">Vạn Xuân</span></span></a></span><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> (mười nghìn mùa xuân) mà sử cũ cho là “mong xã tắc được lâu bền muôn đời”, lấy niên hiệu riêng cho triều đại mới là Thiên Đức (đức của Trời), đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội ngày nay). Lý Bí đặt ra trăm quan, dựng điện Vạn thọ (thọ mười ngàn đời) để các quan văn đến triều hội. Lý Bí tôn thờ tín ngưỡng dân gian, Ông cho lập miếu thờ bà Triệu (lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa chống nhà Ngô vào năm 248) và phong Thánh hiệu cho bà. </span></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Lý Bí ở ngôi được 5 năm (534 – 548).</span></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;margin:6pt 0in"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY </span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">(Tài liệu tham khảo : Lịch sử Việt Nam, tập 3 của Hội Đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh – Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2007).</span></i></span></p>
<p><span style="color:#0000ff"> </span></p>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/10/2011 2:10 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 11.314</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 08:32:49 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=95</guid>
    </item>
    <item>
      <title>II. CÁC CUỘC KHỞI NGHĨA CHỐNG QUÂN MINH ĐẦU THẾ KỶ XV (1407 - 1417)</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=77</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClassF60C9EDA05A0450B8B4AA58948B87591><p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1. Các cuộc khởi nghĩa “phản Minh phục Trần” do các quý tộc yêu nước họ Trần thực hiện.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt 0.5in"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1.1. Cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:45pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trần Ngỗi là con thứ của Trần Nghệ Tông. Đầu năm 1407, khi quân Minh xâm lược nước ta, Trần Ngỗi đã nổi dậy khởi nghĩa ở Yên Mô (Ninh Bình), được suy tôn là Giản Định Đế (10/1407), đã giải phóng dược một vùng đất ở phía Bắc, nhưng không duy trì được lâu. Tháng 12 năm Mậu Tý (1408), do mâu thuẫn nội bộ, ông chạy về thành Ngự Thiên (nay thuộc Hưng Hà, Thái Bình), nhưng vẫn dốc chí đánh giặc. Ngày 17 tháng 3 năm Kỷ Sửu (1409), ông bị tướng của Trần Quý Khoáng là Nguyễn Suý bắt được, dẫn về Nghệ An với nghĩa quân Trần Quý Khoáng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt 9pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1.2. Cuộc khởi nghĩa Trần Quý Khoáng.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Trần Quý Khoáng là cháu Trần Nghệ Tông tiếp tục khởi nghĩa (1409), xưng là Trùng Quang Đế và được nhân dân ủng hộ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng ra đời do sự phân biệt, chia rẽ nội bộ trong cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi. Những người chỉ huy cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng thấy rõ điều ấy và tìm cách hợp nhất hai lực lượng yêu nước lại dưới quyền của Trần Quý Khoáng rồi suy tôn Trần Ngỗi lên làm Thái thượng hoàng.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nghĩa quân Trần Quý Khoáng, sau một thời gian củng cố lực lượng, vẫn kiểm soát khu vực từ Thanh Hóa trở vào. Dưới sự chỉ huy của các tướng Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy, nghĩa quân nhiều lần tiến ra hoạt động ở vùng lưu vực sống Đáy, sông Nhị, sông Thái Bình, đánh chiếm cửa Hàm Tử, đồn Bình Than, gây cho quân Minh nhiều thiệt hại. Sau đó, nghĩa quân thất bại ở Ái Tử - Quảng Trị, khởi nghĩa tan rã năm 1413. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Sau thất bại của Nhà Hồ, cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi (1407-1409) và Trần Quý Khoáng (1409- 1413) là lớn nhất. Nhưng dù thất bại, phong trào đấu tranh của nhân dân ta đã thể hiện quyết tâm chống xâm lược, giành lại quyền tự chủ cho đất nước.</span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b style=""><i style=""><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo: </span></u></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- <i>Lịch sử Việt Nam tập 3, tác giả Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh ,NXB Trẻ, năm 2007.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tiến trình Lịch sử Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục, <span style=""> </span>năm 2009. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Thuần ,NXB Giáo dục, năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam, tác giả Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB Văn hóa – thông tin, năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3, Tác giả Nhóm Nhân văn trẻ, <span style=""> </span>NXB Trẻ, năm 2008.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Các nhân vật lịch sử của NXB Giáo dục. </span></i></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> NHÀ MINH ĐÔ HỘ ĐẠI VIỆT (1407 - 1427)</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 9:30 CH</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 13.323</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>NHÀ MINH ĐÔ HỘ ĐẠI VIỆT (1407 - 1427)</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 02:42:20 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=77</guid>
    </item>
    <item>
      <title>6. AN DƯƠNG VƯƠNG</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=92</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass7332A0EA7FA54BE0AEC14BEF722320DD><div class=ExternalClassBFE1D49B4F6A497DA2464AA597E31F5E>
<div class=ExternalClass79F3AAF74F5D4E4A9133CDBF584807A3>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:38.15pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">An Dương Vương có họ là Thục, tên là Phán, người Ba Thục. </span></span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:38.15pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Vua Hùng Vương và họ Thục chống cuộc xâm lược của quân Tần thắng lợi. Thục Phán với tư cách người chỉ huy chung đã được thay thế Hùng Vương làm vua vào </span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">năm </span></span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="257 TCN (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=257_TCN&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color:#0000ff"><span style="text-decoration:none;text-underline:none">257 </span></span></a></span><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">trước Công nguyên</span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">, </span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">lấy </span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">hiệu An Dương Vương, đặ</span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">t tên nước là Âu Lạc, </span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">đóng đô ở </span></span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Phong Khê (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Phong_Kh%C3%AA&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color:#0000ff"><span style="text-decoration:none;text-underline:none">Phong Khê</span></span></a><span style="color:#0000ff"> (</span><a title="Đông Anh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%B4ng_Anh"><span style="color:#0000ff"><span style="text-decoration:none;text-underline:none">Đông Anh</span></span></a></span><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> </span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">- </span></span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"><a title="Hà Nội" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i"><span style="color:#0000ff"><span style="text-decoration:none;text-underline:none">Hà Nội</span></span></a></span><span style="color:#0000ff"><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">)</span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt"> và ở ngôi được 50 năm.</span></span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:38.15pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">An Dương Vương lập nước Âu Lạc, đánh dấu bước phát triển mới, nối tiếp sau quá trình dựng nước Văn Lang, là sự liên kết, hòa nhập của hai cộng đồng người Việt cổ gồm Lạc Việt và Tây Âu trở thành cộng đồng mới là Âu + Lạc, lập nên quốc gia Âu Lạc hùng mạnh, dựng đô ở thành cổ Loa, phá được Tần, buổi đầu ngăn được Triệu, tiếp tục phát triển nền văn hóa truyền thống ngàn năm của Văn Lang trước đó.</span></span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:38.15pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">Âu Lạc là một nước có lịch sử tồn tại và phát triển trong 78 năm (từ năm 257 trước Công nguyên đến 179 trước Công nguyên).</span></span></p>
<p style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:38.15pt;margin:0in 0in 0pt"><span style="color:#0000ff"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;font-size:10pt">An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa với bố cục gồm ba vòng tường đất khép kín với tên gọi dân gian theo trình tự từ trong ra ngoài là thành Nội, thành Trung và thành Ngoại. Cả ba vòng thành đều có ngoại hào, giữa các hào có đường nước nối liền nhau và ăn thông ra sông Hoàng Giang. Ngoài ba vòng thành và hào bao quanh, có nhiều đoạn lũy, ụ đất phân bố rải rác bên trong thành sử dụng như là những điểm phòng vệ.</span></span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;margin:6pt 0in"><span style="color:#0000ff"><b><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY </span></b></span></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><span style="color:#0000ff"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;font-size:10pt">(Tài liệu tham khảo : Lịch sử Việt Nam, tập 3 của Hội Đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh – Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2007).</span></i></span></p>
<p><span style="color:#0000ff"> </span></p>
</div>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/10/2011 2:30 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 4.192</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 08:20:39 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=92</guid>
    </item>
    <item>
      <title>I. KHÁI QUÁT GIAI ĐOẠN TRIỀU LÝ</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=64</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass93D336EC3F9042AE93A1D50FAF89332F><div class=ExternalClass1A54BF3DD30F45748572643630D0958D>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Cuối triều Tiền Lê, xu hướng cát cứ lại từng lúc nổi dậy và triều đình áp dụng chính sách quân sự để giữ vững sự thống trị. Cuộc sống của nhân dân trở nên vô cùng khổ sở. Vì vậy sau khi Lê Long Đĩnh mất, quan lại và sư tăng đã tôn <b><i>Lý Công Uẩn lên làm vua và lập nên triều Lý vào ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu (1009)</i></b>. Lý Công Uẩn lên ngôi vua, chọn niên hiệu là Thuận Thiên và <b><i>lấy năm Canh Tuất (1010) làm năm mở đầu cho triều đại của mình</i></b>. Tháng 7 năm 1010, ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn quyết định dời đô về Thăng Long ở đồng bằng Bắc Bộ bên bờ sông Hồng. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Vương triều Lý tồn tại gần 216 năm, trải qua 9 đời Vua:</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">1. Lý Thái Tổ (1009 - 1028) – Lý Công Uẩn</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">2. Lý Thái Tông (1028 - 1054) – Lý Phật Mã</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">3. Lý Thánh Tông (1054 - 1072) – Lý Nhật Tôn</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">4. Lý Nhân Tông (1072 - 1127) – Lý Càn Đức</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">5. Lý Thần Tông (1128 - 1138) – Lý Dương Hoán</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">6. Lý Anh Tông (1138 - 1175) – Lý Thiên Tộ</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">7. Lý Cao Tông (1175 - 1210) - Lý Long Cán</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">8. Lý Huệ Tông (1210 - 1224) – Thái tử Sảm</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">9. Lý Chiêu Hoàng (1224 - 1225) – Công chúa Chiêu Thánh, Phật Kim.</span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;text-indent:9pt;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:0in 9.0pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY QUẬN 8.</span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;margin:0in 0in 0pt;tab-stops:.5in 62.2pt"><b style=""><i style=""><u><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tài liệu tham khảo: </span></u></i></b></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- <i>Lịch sử Việt Nam tập 3, tác giả Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh –Viện khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh ,NXB Trẻ, năm 2007.</i></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tiến trình Lịch sử Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục, <span style=""> </span>năm 2009. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Thế thứ các triều vua Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Thuần ,NXB Giáo dục, năm 2010. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Tóm tắt các niên biểu sử Việt Nam, tác giả Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, NXB Văn hóa – thông tin, năm 2008. </span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 2-3, Tác giả Nhóm Nhân văn trẻ, <span style=""> </span>NXB Trẻ, năm 2008.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Hồn Việt số 32 tháng 2-2010.</span></i></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">- Các nhân vật lịch sử của NXB Giáo dục. </span></i></p>
<p> </p>
</div></div></div>
<div><b>Loại:</b> TRIỀU LÝ (1009 - 1225)</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 20/10/2011 4:00 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 6.332</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>TRIỀU LÝ (1009 - 1225)</category>
      <pubDate>Thu, 20 Oct 2011 09:04:26 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=64</guid>
    </item>
    <item>
      <title>11. PHÙNG HƯNG (761 – 802)</title>
      <link>http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=97</link>
      <description><![CDATA[<div><b>Nội dung:</b> <div class=ExternalClass1A42C7A9434F40209A6BEFF1F48FCD44><p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Tên</span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> thật</span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"> </span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">: </span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Công Phấn</span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">, được tôn danh hiệu là </span><span lang=VI style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Bố Cái Đại Vương.</span><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"></span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Phùng Hưng là hào trưởng ở đất Đường Lâm (Ba Vì – Hà Tây), ông thuộc dòng họ đời đời làm quan lang ở châu Đừng Lâm, có uy tín lớn đối với dân chúng trong vùng, là lãnh tụ quân túc vệ biên cảnh người Man. Phùng Hưng có sức khỏe vật đổ trâu, đánh được hổ, đội thuyền lớn đi hàng chục dặm. </span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">Nhân lúc quân lính trong phủ thành bất mãn chống lại bọn quan chức đô hộ, Phùng Hưng được dân chúng hưởng ứng, đã nổi lên làm chủ đất Đường Lâm quê nhà, lại mở rộng thế lực khắp Châu Phong (Việt Trì – Phú Thọ). Phùng Hưng tự xưng là Đô quân trấn giữ cả địa bàn trung du miền núi Bắc Bộ.</span></p>
<p class=MsoNormal style="text-align:justify;line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:0in 0in 0pt"><span style="line-height:150%;font-family:Arial;letter-spacing:-0.1pt;color:blue;font-size:10pt">Mấy năm sau, thấy quân lực đã mạnh, Phùng Hưng tiến về xuôi, đánh phá phủ thành Tống Bình (Hà Nội) và chiếm được phủ thành, kiểm soát toàn bộ Giao Châu (nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ), ông nắm giữ quyền hành được 7 năm rồi mất vào năm 791.</span></p>
<p class=MsoNormal align=right style="text-align:right;line-height:150%;margin:6pt 0in"><b style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY </span></b></p>
<p class=MsoNormal style="line-height:150%;text-indent:0.5in;margin:6pt 0in"><i style=""><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt">(Tài liệu tham khảo :<span style=""> Lịch sử Việt Nam, tập 3 của Hội Đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh – Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trẻ xuất bản năm 2007).</span></span></i><span style="line-height:150%;font-family:Arial;color:blue;font-size:10pt"></span></p>
<p> </p></div></div>
<div><b>Loại:</b> Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</div>
<div><b>Đã phát hành:</b> 21/10/2011 1:55 SA</div>
<div><b>ItemStatus:</b> 3</div>
<div><b>TopItem:</b> Không</div>
<div><b>ReadCounter:</b> 6.101</div>
]]></description>
      <author>Lưu Ngọc Thanh</author>
      <category>Nhân vật lịch sử từ thời dựng nước đến thế kỷ X</category>
      <pubDate>Fri, 21 Oct 2011 08:38:57 GMT</pubDate>
      <guid isPermaLink="true">http://www.quan8.hochiminhcity.gov.vn/dantaphaibietsuta/Lists/Posts/ViewPost.aspx?ID=97</guid>
    </item>
  </channel>
</rss>